Chương 38 Vì Nước Quên Mình

Chương 39
Vì Nước Quên Mình

Biết Huân không mấy khá giả, nên buổi hẹn gặp lại nhau sáng hôm sau, Hưởng đưa bạn vào nhà hàng Continental, nơi ngày còn cắp sách đến trường, cả hai vẫn thường mơ ước được một lần ngồi nhâm nhi cà phê, nhìn ngắm thiên hạ bát phố.
Trong lúc chờ đợi đồ ăn thức uống dọn ra, Huân say sưa ngắm nhìn khung cảnh lộng lẫy, xa hoa, của ngôi dinh thự cổ xưa, góp phần làm nên một Sài Gòn thanh lịch, rồi giải bày lòng mình ra:
– Nếu không gặp lại mày, chắc tới chết tao cũng không có dịp bước chân vô đây.
Hưởng chân tình đáp lại:
– Còn nếu tao ở lại, sợ còn tệ hơn mày nữa.
Nói xong Hưởng ngồi lặng thinh, tận hưởng cái hạnh phúc được nhìn rõ niềm vui thể hiện qua ánh mắt, nụ cười trên gương mặt bạn.
Ngắm chán chê rồi Huân lại hỏi chuyện bên Mỹ:
– Qua tới bên đó, có được cuộc sống vật chất đầy đủ, có khi nào mày nghĩ tới chuyện quay về nước tiếp tục đánh đấm với Cộng sản nữa không?
Hưởng đáp:
– Có chứ, lúc mới sang Mỹ, vết thương nước mất nhà tan vẫn rỉ máu, tinh thần chiến đấu còn rất cao, nên việc phục quốc có thể coi như một nhu cầu thiết thực của người Việt mình. Tao thấy nó giống như việc gởi tiền, gởi quà về giúp đỡ thân nhân, bè bạn vậy. Làm sao mà không nghĩ tới quê hương, khi trên biển vẫn xảy ra bao nhiêu thảm cảnh. Khi biết dân mình phải ăn bo bo, phải đánh nhau với Tàu với Miên. Vì vậy nơi nào có người Việt sinh sống, đều có các nhóm cựu quân nhân, các đoàn thể chính trị quy tụ lại sinh hoạt chung với nhau, để tìm đường trở về quê hương cứu nước. Nổi nhất trong thời kỳ đầu có lẽ là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, người mà trước 75 thiên hạ đồn đại là một ứng viên Thủ tướng sáng giá, thay thế cho Đại tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Huy đứng ra thành lập Liên Minh Dân Chủ, có khá đông người theo. Mỗi lần ông về Nam Cali nói chuyện, tao đều tới nghe hết. Tiếc là ông Huy mất quá sớm, nên chưa làm được gì nhiều.
Huân hỏi tiếp:
– Mày biết rành chuyện những người quay trở về nước chiến đấu như Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ không?
Hưởng đáp:
– Chuyện hồi còn bị giam trong khám Bạc Liêu với trại Cạnh Đền, tụi mình nghe đồn rùm lên vụ ông Kỳ, ông tướng Ngô Quang Trưởng,… vô bưng lập chiến khu, chỉ toàn là chuyện tào lao. Nhưng có khá nhiều cá nhân cũng như các tổ chức, đoàn thể từ bên ngoài tìm cách quay trở về nước, để tiếp tục chiến đấu là chuyện có thật. Tiếc là hết thảy đều thất bại. Rồi kể từ đó mọi cá nhân, đoàn thể người Việt ở hải ngoại không còn nghĩ tới việc chống Cộng bằng vũ lực nữa. Tao thấy trong số này có cả thẩy 4 nhóm tiêu biêu biểu.
Nói đến đây Hưởng hỏi Huân:
– Mày có nghe tiếng ông Trần Văn Bá không?
– Tao chỉ nghe tên, chớ không rõ mấy về ông này.
Trò chuyện đế đây Hưởng hơi giật mình tự hỏi: Sao mình đưa Huân tới đây? Lại ngồi đối mặt với Nhà Hát Thành Phố, trụ sở cũ của Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, xa hơn chút nữa là khách sạn Caravelle. Cả hai dinh cơ đó đều dính dáng tới người anh hùng mà Hưởng đang muốn kể ra.
Trở về với câu chuyện dang dở, Hưởng hỏi Huân:
– Mày còn nhớ Dân Biểu Trần Văn Văn, hồi thời còn ông Diệm, ông ấy ở trong nhóm Caravelle, đối lập với chính quyền không?
Huân đáp:
– Tao nhớ là ông Văn bị ám sát chết hồi tụi mình còn học ở trường Hưng Đạo Sài Gòn, tao với mày có đi đưa đám ông ấy phải không?
Hưởng gật đầu đáp:
– Mày nhớ đúng! Ông Bá là con thứ Ba của ông Văn, lớn hơn tao với mày 3 tuổi. Sau khi bố mất vài tháng, ông Bá qua bên Pháp du học. Tới sau 75, từ nước Pháp nhìn về quê hương, thấy đất nước tang hoang, dân tình khổ sở,… ông Bá dứt khoát bỏ Paris, âm thầm trở về tìm đường cứu nước. Ông kết hợp với lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo lập ra “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam”.
Hưởng hỏi thêm:
– Hồi cuối năm 84 mày ở đâu?
– Lúc đó tao về Sài Gòn sống rồi.
– Vậy mà mày không hay gì về vụ xử nhóm của ông Trần văn Bá ở bên trong cái nhà hát sau lưng mày sao?
Huân đáp:
– Tao có hay vụ xử này. Nhưng đâu có giám ló mặt ra ngoài đó. Lỡ bị tụi nó nghi ngờ chuyện này chuyện nọ, rồi bắt lại là coi như tiêu đời luôn.
Hưởng liền kể:
– Trong một lần lén lút đưa vũ khí từ biển vào đất liền, toán hơn 20 người của ông Bá bị quân của Nguyễn Tấn Dũng, hồi đó còn là Thiếu tá Công an tỉnh Rách Giá bắt được. Khi đưa ra tòa, 3 người bị kết tội phản quốc và kết án tử hình là các ông: Trần Văn Bá, từ Pháp trở về, Hồ Thái Bạch, tín đồ Cao Đài với Lê Quốc Quân, tín đồ Hòa Hảo. Cả ba đều không làm đơn xin ân xá, bị tụi nó đem hành quyết hồi đầu năm 85. Lúc đó ông Bá chưa tới 40. Người lớn tuổi nhất là ông Hồ Thái Bạch sinh năm 26. Còn ông Lê Quốc Quân lớn hơn ông Bá 4 tuổi.
Huân ngậm ngùi hỏi:
– Mày có gặp ông Bá lần nào không?
Hưởng lắc đầu:
– Tao chưa gặp vì ông Bá sinh sống bên Pháp. Đối với dư luận quốc tế ông Bá được xem là vị anh hùng, đã can trường hy sinh cho tự do. Bên nước Bỉ có một bảng tưởng niệm vinh danh ông được đặt tại thành phố Liège. Riêng tại Mỹ ông được trao tặng Huân chương Tự Do Truman – Reagan. Ông Trần Văn Tòng, anh Hai ông Bá đã lên nhận giải thay cho em. Tên ông cũng được đặt cho một con đường nằm trong khu thương xá Eden của người Việt Nam gần thủ đô nước Mỹ.
Chết vì quê hương thời nào cũng có, Hưởng nghe lòng nhói đau khi kể lại câu chuyện anh em đồng bào, kẻ thắng giết người thua. Hưởng ngước nhìn sang tòa nhà trắng toát trước mặt, nằm sừng sững nơi đó hàng thế kỷ nay, từng chứng kiến bao giờ phút hiện diện của cha con ông Bá. Cha ông, Dân biểu Trần Văn Văn với cương vị đại diện cho người dân, thường mạnh dạn lớn tiếng tranh đấu cho lẽ phải nơi nghị trường. Rồi đến phiên con ông, bị kết tội phản quốc cũng chính tại nơi này.
Hai chữ “phản quốc” vang lên trong đầu, khiến Hưởng tự hỏi: Quốc là gì? Ngày ông Bá bắt đầu nhận biết ý nghĩa chữ Quốc, nước Việt đã chia đôi, giống như Đàng Trong, Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn. Một nòi giống có tới 2 quốc gia, 2 lá cờ,… ông Bá chỉ được quyền chọn một, và ông đã dứt khoát bảo vệ chánh nghĩa Quốc gia, thể hiện qua những năm tháng làm Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Rồi Quốc trong lòng ông bị người ta cướp, ông dấn thân tìm cách lấy lại những gì đã mất, cớ sao lại kết ông vào tội “phản quốc”?
Hưởng còn tự hỏi thêm: Ai đã làm cho đất nước tang thương, dân tình đói khổ, mất hết mọi quyền tự do căn bản của con người? Ai đã đem cái Chủ Nghĩa Xã Hội hão huyền về nước, bắt hàng triệu con dân Việt phải chết cho cái chủ nghĩa hoang tưởng đó? Mãi tới lúc dân chúng ở chính nơi sản sinh ra nó, cùng dân các nước Đông Âu đồng loạt vùng lên đập cho nó chết, nhưng tiếc thay dân Việt vẫn bị đảng cầm quyền buộc phải tiếp tục tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường vô định ấy!
Hưởng thiết nghĩ: với mảnh bằng Cao Học Kinh Tế trong tay, với công việc Trợ Giảng tại trường Đại học trước ngày lên đường trở về nước, ông Bá dư điều kiện để có được đời sống an lành, đầy đủ mọi tiện nghi vật chất nơi xứ người. Nhưng ông lại chọn con đường gai góc để đi, và ông đã hy sinh trên con đường mình đã chọn. Nghĩ tới bản án “phản quốc” người ta kết tội ông, Hưởng lại chợt nghĩ đến một vị anh hùng khác, cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, mất lúc mới ngoài 37 tuổi. Ông đã nói với những người đưa ông ra pháp trường: “Nếu tôi thắng, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi…”
*
Để hình ảnh người hùng Trần Văn Bá, Hồ Ngọc Cẩn dần lắng xuống, Hưởng chú tâm vào việc ăn uống, cùng sắp xếp trong đầu xem nên nói với Huân điều gì để trong vài mươi phút ngắn ngủi, có thể chuyển đạt hết cái uy dũng của một con người luôn đặt tổ quốc lên trên hết.
Nhắc về một vị anh hùng, Hưởng lại mở đầu bằng một câu hỏi liên quan tới lãnh vực âm nhạc:
– Mày còn nhớ bài hát “Mẹ Việt Nam Ơi Chúng Con Vẫn Còn Đây” không?
– Nhớ chứ! Bài này Nguyễn Ánh 9 phổ từ một bài thơ của Hoàng Phong Linh.
– Mày biết Hoàng Phong Linh là ai không?
Huân nhẹ lắc đầu, Hưởng liền giải thích:
– Đó là bút hiệu của ông Võ Đại Tôn, người con đất Quảng Nam, lớn hơn tao với mày đúng một con giáp. Chắc mày cũng đâu biết gì về lai lịch của bản nhạc này phải không?
– Tao chỉ biết đây là một bản nhạc hay, có hồn, giọng Thái Thanh hát nghe tuyệt vời nhất.
Hưởng nói tiếp:
– Tao được nghe chính ông Võ Đại Tôn kể là: Hồi năm 72, khi biệt phái từ bên quân đội qua làm Giám đốc Nha Công Tác Bộ Dân Vận Chiêu Hồi. Lúc đó ông đã thấy trước, Miền Nam rồi sẽ mất về tay Cộng sản, nên trong thơ lẫn nhạc mới có câu: Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam.
Huân hát lên nho nhỏ:
– Một đàn con rồi quên ơn Mẹ nuôi dưỡng. Súng đạn cày tan nát luống quê hương. Lệ hồng pha Bến Hải nước tràn dâng. Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam.
Hưởng khen bạn rồi tiếp tục hỏi:
– Giọng mày vẫn còn ngọt lắm! Mà mày còn nhớ tờ báo Trắng Đen không?
Huân cười trêu chọc:
– Mày có bị tửng không, mà sao đang nói về chuyện ông Võ Đại Tôn nhảy sang chuyện báo chí?
Hưởng làm bộ nghiêm mặt lẫn nghiêm giọng:
– Hỏi thì cứ việc trả lời đi! Tao không tưng tửng như mày nghĩ đâu!
Huân cũng diễu cợt theo:
– Dạ, xin thưa với Trung úy: Trắng Đen là một tờ báo lá cải, tới năm 72 phất lên, trở thành tờ báo bán chạy nhất nước, nhờ tìm ra được đúng cô con gái bị bỏ rơi lại Việt Nam của ngài Tổng thống Bokassa bên nước Trung Phi ạ!
Hưởng gật đầu đáp:
– Mày nhớ đúng. Sau “30-4”, gia đình ông bà chủ báo Việt Định Phương chạy qua tới Mỹ, rồi cho xuất bản lại tờ báo Trắng Đen. Đến khi ông Võ Đại Tôn, từ bên nước Úc qua Âu châu rồi tới Hoa Kỳ vận động đồng hương, để có nguồn tài trợ hầu tìm đường trở về quang phục quê hương. Việc làm của ông Tôn liền được báo Trắng Đen tiếp trợ hết mình. Nhưng có lẽ bởi người Việt lúc đó đã mất hết niềm tin vào những lời hứa hẹn, nên công cuộc vận động cho “Chiến Dịch Người Về”, để yểm trợ cho “Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc”, do ông Tôn đứng ra thành lập, với mục đích nguyện làm viên gạch lót đường giữa hải ngoại với quốc nội hoàn toàn thất bại. Dư luận cho ông Tôn là không thức thời, cho chuyện ông muốn trở về Việt Nam là ảo tưởng, điên khùng. Có người còn mạnh miệng lên án ông là Võ Đại Bịp, cấu kết với ông Việt Định Phương để bán báo, để làm tiền đồng bào,…
– Riêng mày thì sao?
Hưởng nói như lời thú tội:
– Sự việc này là một ân hận lớn trong đời tao. Nếu tao nghi ngờ lời ông Tôn hứa hẹn còn ít đáng trách. Đằng này tao tin ông Tôn sẽ trở về mà lại không chịu tiếp tay. Sau đó tao cũng chẳng để ý gì tới việc ông có về nước hay không. Rồi mãi cho tới khoảng giữa năm 82, trong cộng đồng Việt Nam có loan truyền đoạn video ngắn, do một ký giả của đài truyền hình Nhật Bản đã lén lút đem được ra hải ngoại. Đoạn video đó quay cảnh cuộc họp báo diễn ra tại Hà Nội. Tiếng nói cùng gương mặt của ông Võ Đại Tôn đã làm mọi người xúc động.
– Ông Tôn nói những gì?
– Vỏn vẹn chỉ có mấy lời là: Ông sẽ không phản bội lại những người từng giúp đỡ, ủng hộ ông. Ông sẽ tiếp tục đấu tranh cho tự do, giải phóng đất nước. Ông sẵn sàng chấp nhận hết những gì Cộng sản Việt Nam dành cho ông. Nhưng tới chừng nghe được chính giọng ông Tôn kể về sự việc đơn độc, chống chọi với nguyên bầy quỷ dữ, tao mới cảm nhận hết được cái tâm lẫn cái dũng của một con người chấp nhận hy sinh tính mạng vì đất nước.
– Còn chuyện tìm đường về nước, ông Tôn có kể ra không?
– Có chứ! Nhờ vậy tao mới thấu hiểu: để làm tròn nhiệm vụ của viên gạch lót đường, ông Tôn chỉ mong có được trong tay khoảng 20 ngàn đô. Vậy mà sau khi cắt máu ăn thề tại Los Angeles, để chuẩn bị quay trở về quê hương, vẫn chưa có một Ủy Ban Yểm Trợ nào thu góp được tiền bạc. Nhưng ông vẫn dứt khoát làm tròn lời hứa. Ra đi bằng khả năng chính mình, cùng sự trợ giúp của riêng gia đình ông Việt Định Phương. Nên trong ba lô của người về từ hải ngoại, ông mang theo hàng trăm bức tâm thư của đồng bào tin tưởng gởi gấm cho ông, cùng một số truyền đơn và mấy tờ báo Trắng Đen, có in hình ảnh ông trong những lần đi vận động suốt từ Âu sang Mỹ.
Huân hỏi:
– Có ai đi cùng với ông Tôn không?
– Có chứ! Nhưng chỉ có 3 thầy trò: ông Võ Đại Tôn 45 tuổi, ông Vũ Đình Khoa 30, một cựu Thiếu úy trước kia ở Tiểu khu Lâm Đồng, còn người trẻ nhất là Trung sĩ Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Văn Lộc. Sau bao ngày băng rừng, lội suối gian khổ, ước mong được quỳ xuống hôn lên mảnh đất Việt thân yêu vẫn chưa thực hiện được, thì ông Vũ Đình Khoa bị quân Lào cộng bắn chết dưới chân thác Champy, gần biên giới Lào – Việt. Mấy ngày sau ông Tôn với ông Lộc cũng bị quân Lào cộng bắt, giao nạp cho Công an Việt Nam, giải bằng máy bay về Hà Nội.
Nghe kể đến đây, Huân đưa ra cái nhìn của riêng mình:
– Tao thấy ông Võ Đại Tôn lên đường cứu nước vừa với cung cách một nhà chính trị lẫn quân sự, còn có luôn cả cung cách lãng mạn của một nhà thơ. Ông xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, như để làm đúng theo lời thơ ông viết ra trước kia.
Rồi Huân lại khe khẽ hát:
– Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây. Không phản bội giòng sữa thơm nuôi dưỡng. Chúng con nguyện đi dựng lại quê hương…
Hưởng kể tiếp câu chuyện:
– Sự việc ông Võ Đại Tôn chỉ muốn được làm viên gạch lót đường rõ như ban ngày. Bởi ông chẳng hề dấu diếm, trong ruột gan có gì, ông phơi bày hết ra mặt báo Trắng Đen. Vậy mà việc tra tấn lúc khai thác, hỏi cung vẫn liên tục xảy ra. Rồi người Cộng sản muốn dùng miệng lưỡi ông cáo gian, nói cho thế giới biết: Mỹ chỉ đạo ông xâm nhập về Việt Nam, Thái Lan cho ông mượn đường, còn Trung cộng tiếp tế vũ khí cho ông. Tụi nó còn muốn ông lên tiếng kêu gọi các nhóm phản động ở nước ngoài hãy thức tỉnh, đừng nuôi ảo vọng chống phá Cách mạng Việt Nam nữa.
Huân bình phẩm:
– Đúng là bản chất của Cộng sản, lúc nào cũng tìm cách gạt người!
Huân hỏi tiếp:
– Mày còn nhớ những gì xảy trong cái bữa tụi nó đưa ông Tôn ra họp báo không?
Hưởng lần lượt kể:
– Sau hơn 8 tháng bị đánh đập, giam cầm, bỗng dưng ông Tôn được đưa về Hà Nội, đối xử như một thượng khách, cho ăn uống ngang hàng cấp Bộ trưởng. Ngoài ra còn được hứa hẹn đủ điều tốt đẹp: nào là sẽ cấp cho biệt thự riêng, thêm cả ô tô con, đưa vào làm ủy viên trong Mặt Trận Tổ Quốc,… Cuối cùng còn hân hạnh được dẫn đi chiêm ngưỡng cái lăng với cái thây của “bác”,… Nhờ vậy hơn một tuần lễ sau ông Tôn cùng với một viên Đại tá Công an dựng xong vở kịch “Họp Báo Quốc Tế”. Vì chưa hẳn tin tưởng, nên tụi nó đưa ông ra họp báo trong nước trước. Diễn viên Võ Đại Tôn đóng trọn vẹn vai trò trong lần họp báo nháp đó. Nên kịch bản Họp Báo Quốc Tế mới chính thức được cho phép ra mắt. Nếu tao nhớ không lầm thì chủ trì buổi họp báo đó là một tên Thứ trưởng. Còn báo chí quốc tế có cả chục người: BBC Luân Đôn, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, đài Nhật Bản,… Nhưng bước ra sân khấu ông Tôn không diễn đúng những gì tập dợt trước, mà diễn theo mọi điều ông tương kế tựu kế, vừa tự mình soạn sẵn trong đầu. Trước tiên ông xin các thông dịch viên vì lương tâm chức nghiệp hãy dịch trung thực, đầy đủ những gì ông sắp nói. Sau đó ông dõng dạc nhận mình là Chỉ Huy Trưởng của một tổ chức có kế hoạch xâm nhập Việt Nam, để tìm hiểu tình hình rồi dựa vào đó sắp đặt kế hoạch cho tương lai. Đến khi nghe được mệnh lệnh của tên Thứ trưởng không cho ông tiếp tục phát biểu linh tinh nữa. Ông Tôn mới đứng thẳng người, nói thật lớn mấy lời đanh thép mà viên ký giả của đài truyền hình Nhật Bản thâu hình được.
Huân buột miệng khen:
– Ông Võ Đại Tôn quả là một người bản lãnh, can trường.
– Khi lôi ông Tôn vào bên trong, tên Đại tá, người dàn dựng kịch bản, nhìn thẳng mặt ông gằn giọng: “Anh định phá hoại phải không?” Ông Tôn không thèm đáp, thản nhiên ngồi xuống sa lông, ông đã tự dứt khoát: Phải chơi tụi này thêm cú nữa rồi ra sao thì ra. Thế là ông trầm tĩnh nói với tên Đại tá: “Các anh vội phê bình tôi như vậy là không đúng. Tôi mới bị bắt, đưa ra họp báo mà cầm giấy đọc thì ai mà tin. Tôi nói như vậy chỉ là bước đầu thôi, bước kế tiếp tôi chưa kịp nói là tôi biết ăn năn hối cải, đã giác ngộ và xin đọc lời tuyên bố, thì đã bị các anh kéo vào. Phải làm như tôi dự tính thì người ta mới tin. Bây giờ các anh đưa tôi ra lại, tôi sẽ đọc bản tuyên bố và trả lời các câu hỏi”. Tên Đại tá liền dịu giọng: “Sao anh không thảo luận trước với tôi?” Trách cứ xong, y không quên hăm dọa: “Nên nhớ là mạng sống của anh đang trong tay chúng tôi đấy!” Thế là là màn lại kéo lên, ông Tôn trở ra sân khấu. Trong nhốn nháo ông thấy nhiều ký giả đứng vây quanh, họ cố đưa các tờ giấy có ghi câu hỏi lên bàn chủ tọa. Nhưng ông Tôn để hết tâm trí nghĩ tới mấy lời cuối cùng cần nên nói. Ông cũng kín đáo nheo mắt, mỉm cười với các ký giả, còn ngẩng mặt lên cầu nguyện, rồi mới nói thật nhanh: “Tôi đã thưa với quý vị là tôi hành động một mình. Tôi mệt lắm rồi, không thể trả lời thêm được nữa. Cho tôi gởi lời vĩnh biệt vợ con tôi,…”
Thêm một lần nữa Huân buột miệng khen:
– Ông Tôn gan lì thật! Lời nói cùng hành động của ông ấy đáp trả lại tên Đại tá với đồng bọn, tao thấy chẳng khác gì lúc Trần Bình Trọng mắng vào mặt tên tướng Nguyên: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Nhưng sau đó chắc ông Tôn bị nát đòn phải không?
Hưởng diễu cợt khen bạn:
– Quả mày tiên đoán y như thần, nên chắc tao không cần phải kể lại cuộc sống trong tù của ông Tôn như thế nào phải không. Tao nhớ có lần ngồi ăn trong một quán phở ở San Diego, tao cứ len lén nhìn sang bàn bên cạnh, vì tao thấy có một ông lão râu tóc bạc phơ, gương mặt hơi quen quen. Rồi nhờ đôi mắt tinh anh, sáng quắc, tao mới nhận ra ông Võ Đại Tôn, bởi ông già hơn tuổi thật tới ngoài 20 tuổi.
Huân hỏi tiếp:
– Ông Tôn bị tù bao lâu? Vì sao tụi nó thả ổng ra?
Hưởng đáp:
– Ông Tôn bị giam giữ trên 10 năm. Được thả ra là nhờ áp lực mạnh mẽ của dư luận quốc tế, nhất là sự nhiệt tình tranh đấu của chính phủ Úc cũng như đồng bào hải ngoại.
*
Rời nhà hàng Continatal, bước dọc theo đường Tự Do, giờ đã bị Đồng Khởi cướp mất tên, Huân vừa ngắm nhìn các hiệu buôn cùng người qua kẻ lại, vừa khẽ lên tiếng hỏi bạn:
– Mày tin có ngày Tự Do sẽ quay trở lại với con đường này không?
Hưởng nhún vai đáp:
– Đương nhiên rồi, chẳng những Sài Gòn sẽ lấy lại Tự Do, mà toàn dân Việt Nam cũng sẽ được hưởng Tự Do.
Hai đứa cùng thả rong trên con đường ngắn ngủi, dài chưa đầy cây số này, nơi tên đường chỉ thọ được 20 năm, nhưng sẽ mãi mãi là Tự Do của bao người, từng có thời đã gắn bó với thủ đô Sài Gòn. Hưởng ôn lại cho Huân nghe mấy điều mình hiểu biết về một lực lượng lớn mạnh nhất hải ngoại. Hầu hết những thành viên nồng cốt, sáng lập ra đều tìm cách quay trở về giải phóng quê hương. Nhưng tiếc thay, phần lớn đã hy sinh hoặc bị bắt trên con đường mưu tìm Tự Do cho dân tộc.
*
“Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” do Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh cùng Đại tá Phạm Văn Liễu âm thầm thành lập từ năm 80. Mãi hơn 2 năm sau, khi đọc loạt bài “Về Thăm Chiến Khu Vùng Giải Phóng” do Hoàng Xuyên viết, được đăng tải trên tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, Hưởng mới hay biết về Mặt Trận.
Đọc hết loạt bài, Hưởng thấy tác giả để lộ ra khá nhiều chi tiết, khiến độc giả có thể nghi ngờ về sự trung thực của bài viết. Điển hình là đoạn sau khi gặp toán Kháng Chiến Quân ra đón tiếp, phái đoàn từ hải ngoại trở về phải băng rừng lội suối, nằm bờ, ngủ bụi suốt mấy ngày liền mới vào tới chiến khu. Nhưng khi từ khu chiến trở ra, chỉ mất chưa tới 24 giờ, cả phái đoàn đã đặt chân xuống phi trường Tokyo Nhật Bản. Thêm một điều nữa là cái vụ mật khẩu để nhận ra bạn hay địch. Bởi từng là người soạn mật khẩu, Hưởng dễ dàng phát hiện ra ngay. Ai mà lại đặt mật khẩu: hỏi: “Giải Phóng”, đáp: “Việt Nam”. Giả dụ như có tên Việt cộng nào, đang lang thang một mình trong rừng, bất chợt nghe có người cầm súng hô lớn: “Giải Phóng” chắc nó phải cắc bùm ngay, vì biết liền đó là địch quân rồi. Viết lách theo kiểu đó, Hưởng thấy gây hại nhiều hơn là quảng bá cho Mặt Trận.
Nhưng có lẽ chẳng mấy ai để ý chi tới mấy điều vạch lá tìm sâu nhỏ nhặt ấy. Cho nên tới khoảng gần giữa năm 84, khi Tướng Hoàng Cơ Minh cùng bộ Tham mưu từ Chiến khu trở lại Mỹ, mới có tới mấy ngàn người, cầm cờ xí rợp trời ra tận phi trường Los Angeles tung hô, đón tiếp. Sau đó các “Đại Hội Chính Nghĩa” được rầm rộ tổ chức tại Quận Cam, San Jose, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn,… đâu đâu cũng có rất đông người tới tham dự. Chưa khi nào khí thế chống Cộng của người Việt hải ngoại lại dâng cao đến vậy.
Hưởng hiểu rõ Mặt Trận thêm qua chú Lộc em mình, một doanh nhân thành đạt trong Cộng đồng người Việt, cũng là một trong số người đầu tiên hăng hái tham gia Kháng Chiến tại San Diego. Lộc dùng chính ngôi nhà to lớn của mình đang ở, để làm nơi hội họp, sinh hoạt cho các đoàn viên.
Mỗi khi có cán bộ từ trung ương xuống thuyết trình, Lộc vẫn thường rủ anh tới nghe. Có lần Hưởng gạn hỏi riêng:
– Chú tin Mặt Trận có tới 10 ngàn quân như lời Tướng Minh nói không? Chú tin những điều thuyết trình viên kể về mấy trận đánh, trận phục kích ở trong nước không?
Lộc chân tình đáp lại:
– Em cũng nghi ngờ mấy điều đó. Nhưng trong bước đầu, lực lượng nào chẳng phải dùng tới kế sách lộng giả, để rồi từ từ mới biến thành chân. Hiện giờ mọi thành phần nồng cốt của Mặt Trận, ngay cả ông Hoàng Cơ Minh đều chấp nhận sống xa gia đình vợ con, để tìm đường quay trở về nước chống Cộng. Theo em, chỉ nội việc dám làm cái điều mà anh em mình và nhiều người không đủ can đảm làm, đã quá đủ để em ủng hộ Mặt Trận hết mình rồi!
Quả thật, sau các Đại Hội Chính Nghĩa, cuộc sống người Việt như có một luồng sinh khí mới thổi vào. Bước tới bất kỳ cơ sở nào do người Việt làm chủ như: siêu thị, nhà hàng, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ,… cũng đều thấy nhan nhãn những “Hộp Kháng Chiến”, để mọi người tự nguyện đóng góp ủng hộ. Chẳng bao lâu sau, màu áo nâu đồng phục của các đoàn viên cũng xuất hiện ngày một nhiều thêm. Khiến cho niềm hy vọng: sẽ có ngày dân Việt Nam được tự do càng lớn dần trong lòng người tha hương.
Rồi đến khi nội bộ Mặt Trận gặp lủng củng, Tướng Hoàng Cơ Minh giải nhiệm Đại tá Phạm Văn Liễu, người điều hành mọi việc ở hải ngoại. Các tai to mặt lớn trước đây từng đồng tâm hiệp lực, giờ chống lại nhau còn hơn kẻ thù. Ai cũng cố biện minh phần phải về mình. Khiến cho bầu nhiệt huyết của bao đoàn viên tan vỡ, khí thế Mặt Trận lần hồi mất dần. Còn lòng người yểm trợ như trái bong bóng cứ thế xẹp xuống. Ít lâu sau lại có tin: hàng trăm Kháng Chiến Quân bị chết trên đường Đông Tiến. Rồi cả Tướng Hoàng Cơ Minh cũng hy sinh trong lần dẫn quân về Việt Nam.
Đến khi một số cán bộ Mặt Trận bị sở thuế Hoa Kỳ đưa ra tòa về việc quyên góp tiền bạc. Khá nhiều người hả hê vui mừng. Riêng Lộc cùng một số đoàn viên đã mang hết tài sản của mình ra để bảo đảm cho người lâm nạn được tại ngoại. Nghĩa là nếu người được bảo lãnh lẩn trốn, coi như Lộc và mấy người đứng ra bảo lãnh sẽ trắng tay. Hưởng thì nghĩ đơn sơ: suốt ngoài chục năm đầu hình thành cộng đồng người Việt ở Mỹ, chỉ có 2 đoàn thể được nhiều người hăng hái tiếp tay nhất, đó là Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển do Giáo sư Nguyễn Hữu Xương sáng lập và Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của Tướng Hoàng Cơ Minh. Việc quyên góp để cứu vớt thuyền nhân nơi biển Đông còn bạch hóa được, chớ tiền bạc dùng cho công cuộc kháng chiến chống Cộng thì khó mà công khai, minh bạch vì để lộ bí mật, dễ gây nguy hiểm đến tính mạng những chiến sĩ đang âm thầm chiến đấu, hay ẩn thân hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau.
*
Nghe Hưởng kể về Mặt Trận Hoàng Cơ Minh xong, Huân lại hỏi:
– Mày biết rõ gốc gác với gia cảnh Tướng Minh không?
– Ông Minh người Hà Đông, lớn hơn ông Võ Đại Tôn 1 tuổi. Cấp bậc sau cùng là Phó Đề Đốc, Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải. Anh em ông Minh đều là các bậc khoa bảng, có địa vị trong Chính quyền và Quân đội Quốc gia. Qua tới bang Virginia miền Đông Hoa Kỳ, ông Minh làm đủ thứ nghề nào dọn dẹp lau chùi, cắt cỏ, thợ sơn,… Nhưng lòng thì luôn nuôi mộng sẽ quay trở về giải phóng quê hương. Còn mày có hay biết gì về vụ ông Minh không?
– Tao chỉ biết lõm bõm qua báo chí trong nước thôi. Tao nhớ là tụi nó đăng cả hình ông Minh lúc chết nữa. Phần các Kháng Chiến Quân bị bắt, chúng lôi hết ra tòa, có người bị kết án hàng chục năm tù, có người bị chung thân. Còn riêng mày, nghĩ thế nào về ông Minh và Mặt Trận?
– Tao xem hết thẩy đều là anh hùng. Riêng ông Minh còn là vị tướng duy nhất từ hải ngoại tìm đường trở về nước điều quân, cầm súng đánh nhau với Cộng sản và đã chết cho lý tưởng giải phóng quê hương. Mọi tội lỗi phe Cộng sản cũng như Quốc gia gán ghép cho cá nhân ông lịch sử sẽ phán xét. Mấy lần tao gạn hỏi về việc ông Minh đã hy sinh, chú em tao đều cho đó là tin thất thiệt. Mặt Trận cũng nói y chang như vậy, nên đâu có lễ lạc gì để người hải ngoại tưởng niệm hay cúng vái ông Minh cùng những Kháng Chiến Quân đã mất. Tao cũng hơi tiếc là những người trong cuộc, hầu hết chỉ lo bảo vệ sự phải trái lẫn danh dự của riêng bản thân mình, không mấy ai quan tâm gì tới sự thiệt hại của đất nước. Cũng may, chẳng bao lâu sau Liên Xô với nguyên khối Đông Âu sụp đổ, nên không còn ai nghĩ tới việc trở về nước cầm súng giải trừ Cộng sản nữa.

Chương 40
Lý Tống

C
ái nóng hừng hực hắt vào người, khiến Hưởng rủ Huân vào bên trong một quán nước, thay vì tiếp tục bước trên con đường Tự Do sang cả. Buổi trưa quán vắng, chẳng cần chờ đợi lâu, hai ly sinh tố đẹp mắt, pha trộn màu xanh non rau má với màu vàng lợt của đậu xanh đã được đặt lên bàn. Hưởng ngồi nhâm nhi ly nước đặc sệt, mát lạnh, vừa định kể cho bạn nghe thêm về một vị anh hùng nữa, xong chưa kịp mở lời, Huân đã lên tiếng hỏi:
– Mấy ngày sau lễ Quốc khánh của Việt cộng hồi năm 92, dân Sài Gòn xôn sao về vụ: có một viên phi công Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa uy hiếp chiếc Air Việt Nam để rải truyền đơn. Tao nghe đồn có nhiều tờ rớt ngay trên đường Tự Do này lắm. Ở bên đó mày hay biết vụ này không?
Chưa vội trả lời ngay, Hưởng hỏi lại:
– Mày chỉ nghe có bấy nhiêu đó thôi sao?
– Rải truyền đơn xong, viên phi công bắt mở cửa máy bay để nhảy dù ra. Chẳng bao lâu sau dân chúng bắt được, giải giao cho Công an, bị đưa ra tòa lãnh án 20 năm tù, bồi thường nửa triệu mỹ kim. Tới giờ tao chỉ còn nhớ có bao nhiêu đó thôi.
– Làm sao mày hay được mấy tin tức đó?
– Thì tao xem truyền hình với đọc trong báo: Sài Gòn Giải Phóng, Công An, Lao Động,…
– Mày còn giữ mấy tờ báo đó không?
– Giữ để làm gì? Mày cần chi mấy tờ báo đó?
– Tao chỉ hỏi vậy thôi, có thì đọc chơi xem tụi nó viết gì, chớ tao biết rõ vụ này lắm.
Chợt nhớ ra điều gì, Huân nói nhanh:
– Tao có ông bạn già, hơn tao cả chục tuổi. Ổng là người đưa mấy tờ báo đó cho tao coi. Cha nội này ưa sưu tầm, gôm nhặt mấy thứ lẩm cẩm lắm, để tao hỏi coi ổng còn giữ tờ báo nào không?
– Nếu có thì lúc qua bên nhà ăn cơm chiều với gia đình tao, mày nhớ mang theo luôn. Tối nay tao sẽ kể lại vụ không tặc này cho mày nghe. Trước khi về, tao muốn nói với mày một câu, tao không nhớ là đã nghe hay đã đọc câu đó ở đâu: “Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật”. Tao có thể nói ngay: chuyện mày biết còn ngược cả sự thật nữa!
*
Cơm nước xong, trong lúc cả nhà kéo đi dạo phố, Hưởng cùng Huân ra phòng khách nói tiếp câu chuyện còn dang dở. Trong khi Hưởng loay hoay tìm cuốn video bỏ vào máy, Huân trở ra xe. Lúc quay trở vào, cầm đưa cho Hưởng tờ báo cũ mèm rồi nói:
– Hên thiệt! Ông bạn tao vẫn còn giữ được tờ báo này. Trước khi tới đây tao đã đọc kỹ lại rồi. Có nhiều điều thắc mắc lắm. Đợi mày kể tới đâu tao sẽ hỏi tới đó.
Cầm tờ báo trên tay Hưởng cười cười đáp lại:
– Mày còn hên hơn vậy nữa! Bởi vì tao không ngờ trong cuốn video quay cảnh sinh hoạt gia đình mang từ Mỹ về, lại có dính đoạn phiên tòa xử Lý Tống hồi đầu năm 93. Giờ mày ngồi đây coi phim, tao vô pha cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, đọc luôn tờ SàiGòn Giải Phóng. Sau đó tụi mình sẽ nói chuyện tiếp. À mày uống cà phê sữa hay đen?
– Thứ nào cũng được hết! Có uống là tốt rồi. Tao coi 30-4 cũng là ngày tao dứt hẳn được cái bệnh ghiền cà phê cà pháo.

Đoạn phim chưa tới 20 phút, dài vừa đủ để Hưởng đọc hết những gì tờ báo viết về vụ không tặc và phiên tòa xử án. Đến lúc bưng 2 phin cà phê ra, Hưởng khơi chuyện:
– Trước hết tao cho mày hay: suốt gần 2 tuần lễ Lý Tống xuống Nam Cali gặp gỡ đồng hương, sau ngày trở lại Mỹ. Tao là một trong vài người đưa Lý Tống đến các nơi hội thảo, rồi đưa đi dạo chơi, ăn uống, nhậu nhẹt,… Nên tao hiểu khá rõ con người Lý Tống. Ngoài ra còn nghe kể chuyện không tặc, chuyện ở tù đến mòn lỗ tai, nghe miết tao như thuộc nằm lòng hết mấy chuyện của Lý Tống.
Huân ngạc nhiên hỏi:
– Lý Tống bị tuyên án 20 năm mà! Sao chưa mãn hạn tù đã được thả rồi?
– Để từ từ tao sẽ nói rõ hết. Giờ mày đã biết viên phi công là ai rồi, còn thấy luôn hình ảnh, nghe được giọng nói nữa! Chuyện về nhân vật này dài lắm, dài hơn cả trường thiên tiểu thuyết, kể không biết bao nhiêu ngày mới hết. Nội gom các bài vở, thơ văn với nhạc ở hải ngoại viết riêng về Lý Tống, tao nghĩ chắc cũng có tới hàng ngàn trang sách. Mà chuyện nào nghe cũng giống huyền thoại, ngoài sức tưởng tượng của người bình thường.
Huân nói như đùa:
– Vậy mày kê khai lý lịch của Lý Tống ra liền đi.
– Lý Tống người Huế, cùng tuổi với Trần Văn Bá, thuộc khóa 65A KQ, cấp bậc Trung úy, mặc dù các bạn đồng khóa hầu hết mang cấp Thiếu Tá, vì năm 1966, trong lúc du học Hoa Kỳ, Lý Tống bị “sa thải kỷ luật vì hành hung cán bộ có thương tích” và sau trở lại KQ Khóa 33/69. Do Cố vấn Mỹ không chấp thuận cho LT du học trở lại, LT phải học và lái máy bay Quan sát L19 tại Nha Trang, sau đó chuyển qua lái loại Không kích A37, thuộc Phi đoàn Ó Đen 548. Ông là một “Top Gun” vừa bay giỏi lại gan dạ, nên có một đồng đội từng tuyên bố: “Nếu 4 Vùng Chiến Thuật có 4 Lý Tống, Việt cộng sẽ không ngóc đầu lên nổi!” Hai trong các “Missions Impossible” là “Phi Vụ Tử Thần” trong đó Lý Tống là người đầu tiên và duy nhất đưa tay tình nguyện và đã gọi đích danh các Phi công bạn để họ gia nhập nhóm 4 tay kamikaze đánh sập cầu Dziên Bình, một đầu cầu chiến lược ở ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào. Một nhà quân báo từng nhận xét: “Nếu không có chiến tích nầy, miền Nam có thể đã rơi vào tay CS Bắc Việt năm 73-74 thay vì 1975!” Phi vụ thứ nhì là một phi vụ đánh BOB ban đêm, cứu thoát phi trường Phù Cát. Th/Tá Chấn “lead” phi tuần không thả bom khi có tín hiệu do thấy dưới cánh mình là phi trường Phù Cát vì nghi rằng đài BOB đã hướng dẫn nhầm mục tiêu, trong khi Lý Tống bay số 2, tự động bấm nút khi nghe tiếng “tè” nên cả chục phi cơ còn lại bay sau đều thả bom theo Lý Tống. Trên đường về, Th/Tá Chấn quy trách nhiệm đã “giết nhầm quân bạn” cho Lý Tống. Sau đêm trăn trở chờ đợi hình phạt tối đa, tin mừng đại thắng tới vào sáng hôm sau: “Toàn bộ Sư Đoàn 3 Sao Vàng VC bị tiêu diệt khi đang tiến vào vòng đai phi trường Phù Cát.” Xác VC chết chôn không kịp đã làm rữa thối cả một vùng!
Mạng ông Tống lớn lắm như có Thần Hộ Mệnh độ trì. Ngày 5/4/75, trong phi vụ đánh cầu Ba Ngòi ngăn chận CS tiến về Phan Rang, để tránh thiệt hại cho Đồng bào chạy nạn, ông đã bay sát cầu 3 vòng lắc cánh ra hiệu, nên bị hỏa tiển tầm nhiệt SA7 của VC bắn trúng ở 300 feet lúc kéo mũi phi cơ lên cao độ chuẩn bị thả bom. Máy bay vỡ thành hàng chục mảnh, ghế tự động phóng dù, vậy mà Lý Tống không bị thương tích gì. Một tiếng đồng hồ sau, khi băng qua đường xe lửa ra quốc lộ đón xe, Lý Tống bị phát hiện vì lũ trẻ chạy theo “Hoan hô anh Phi Công” nên bị bắt làm tù binh. Lý Tống được thăng cấp “cố” Đại úy, vì cấp trên tưởng ông đã tử nạn khi máy bay bị trúng hỏa tiễn.

Chưa nghe Huân hỏi han thêm, Hưởng kể tiếp:
– Lý Tống nổi tiếng như cồn ngay từ lúc mới sang tới Mỹ hồi năm 83. Nổi bởi câu chuyện trốn khỏi trại tù A30 thuộc tỉnh Phú Khánh sau gần 6 năm cải tạo. Rồi 2 lần đột nhập vào phi trường Tân Sơn Nhất, định ăn cắp máy bay đem dội bom trại tù để cứu đồng đội. Kế tới lại thêm 3 lần trốn tù nữa, trong suốt gần hai năm đi tìm tự do bằng đường bộ, xuyên qua các nước Miên, Thái Lan, Mã Lai rồi bơi qua Johore Strait tới Singapore xin tị nạn.
– Làm sao mày hay được mấy vụ này?
– Hồi đó nhiều tờ báo lớn ở Mỹ cũng như báo chí Việt Nam viết đầy chuyện Lý Tống. Tao thích nhất câu chuyện: lúc ngồi nghe Lý Tống thuật lại chuyến vượt ngục, vượt biên, ông trưởng phòng Phản gián của Tòa đại sứ Mỹ tại Singapore liền thử tài: “Nếu bị giam trong phòng này, anh trốn ra bằng cách nào?” Lý Tống đáp ngay: “Chỉ cần gỡ cái máy lạnh là có đường chui ra!” Nghe vậy ông ta cười bảo: “Anh đúng là một Papillon. Lần sau mà gặp anh, tôi phải đem theo nhiều cận vệ!” Với lại tao có đọc quyển hồi ký “Ó Đen”, trong đó Lý Tống viết rõ hết mọi chuyện về cuộc đời mình.
– Qua bên Mỹ, Lý Tống ở đâu?
– Ở thành phố New Orleans – bang Louisiana. Ban ngày vừa đi học vừa viết sách, ban đêm trông coi một cơ sở thương mại của một cựu Đại tá Không quân, người đã gắn lon “cố” Đại úy cho Lý Tống.
– Ổng học ngành gì?
– “Bang Giao Quốc Tế.” Tao cũng nói thêm một điểm khá đặc biệt là: Lý Tống luôn xem mình là người lính còn tại ngũ. Vì vậy hàng tháng đều thuê mướn máy bay để vừa tiêu khiển vừa ôn tập cất cánh, tập đáp, không hành… cho khỏi lụt nghề. Ông ấy học thêm cả về nhảy dù, võ thuật để tự vệ và diệt địch trên đường đột nhập hay thoát thân. Riêng phần đầu óc vẫn luôn toan tính chờ dịp thuận tiện sẽ mang bom dội lên đầu địch, hoặc bay rải truyền đơn tại các nước Cộng sản chiếm, kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ bạo quyền.,… Bởi đó là công việc trước đây Lý Tống thường làm với châm ngôn mới: “Nhân sự tối thiểu, Chuyên nghiệp tối đa.” Bởi vậy ông thường lên đường một mình và chuyên sử dụng phi cơ trong các phi vụ hoạt động. Đến khi chế độ Cộng sản tại Liên Xô với các nước Đông Âu sụp đổ, Lý Tống thấy cơ hội đã đến, nên dứt khoát bỏ ngang việc trình luận án Tiến sĩ, bay qua Thái Lan, mưu định đánh cắp một chiếc phi cơ, bay về Sài Gòn dội bom kho xăng Khánh Hội, nhằm đúng vào ngày Quốc khánh của Việt cộng. Việc đó không thành do phi cơ mở máy không nổ, phi trường Ubon Thái Lan báo động, Lý Tống chuyển sang kế hoạch thứ 2: Không tặc chiếc Airbus Việt Nam ngày 4/9/92.
Huân muốn biết rõ thêm:
– Có ai biết trước việc làm này không?
Hưởng gật đầu đáp:
– Lý Tống có cho một vài người bạn thân như: nhà văn Không quân Trường Sơn Lê Xuân Nhị, nhà báo Trương Sĩ Lương,… biết để họ theo dõi chuyến đi và góp ý kiến. Ngoài ra còn có buổi tiệc nho nhỏ “Rượu Tiễn Ó Đen” tại nhà một thân hữu, mời gần chục người bạn lại “uống chén ly bôi”, trước khi lên đường “du lịch” Bangkok.
– Chuyện ra đi này tao thấy sao giông giống Kinh Kha sang Tần quá vậy!
– Tao lại thấy khác. Kinh Kha ra đi là để báo đáp công ơn cho Thái Tử Đan đã đối tốt với riêng mình. Còn Lý Tống, tao chẳng tìm thấy lý do nào khác ngoài việc muốn làm tròn nhiệm vụ của một người lính, nhất quyết xả thân vì đồng bào dân tộc. Thêm một điểm khác biệt nữa là: tuy có ăn uống đưa tiễn, nhưng mọi tốn kém trong kế hoạch trở về Việt Nam, Lý Tống đều dùng tiền túi của mình.
Huân thắc mắc:
– Rải truyền đơn rồi, sao không buộc phi công bay trở lại Thái Lan? Nhảy dù xuống làm chi để cho tụi nó hốt?
– Tao từng nghe có người đặt câu hỏi y chang như mày. Lý Tống đã trả lời đại khái như vầy: Trong truyền đơn Lý Tống tự phong chức “Tư Lệnh Lực Lượng Tổng Nổi Dậy Toàn Cầu”, kêu gọi dân Sài Gòn nổi lên đập tan chế độ Cộng sản nên không thể “đem con bỏ chợ”. Đồng bào đứng lên thì phải có người cầm đầu, cùng sống chết với dân. Danh xưng trên, theo Lý Tống, không phải “nổ” lấy tiếng nhưng là một “đòn tâm lý.” Bởi nếu đề “Lý Tống, một người yêu nước” như có người góp ý, thì ai chịu và dám xuống đường. Chưa kể Lý Tống còn “hù” thêm: “Quân ta đang neo thuyền ngoài biển Đông và tập trung tại biên giới Thái, chỉ chờ lệnh là tổng tấn công hỗ trợ cuộc nổi dậy tại quốc nội!

Huân gật gù:
– Đúng là suy nghĩ và hành động của Lý Tống khác người thường. Bây giờ tao muốn kết hợp việc tụi nó viết trong báo với đoạn phim mày vừa cho coi, để tao hỏi mày về người hùng này.
Rồi Huân cầm tờ báo SàiGòn Giải Phóng lên, đọc vừa đủ nghe:
– “Tại buồng lái Tống đã khống chế tổ lái, bắt phải hạ độ cao xuống 200 bộ (khoảng 70 mét) lượn vòng trong khu vực cấm trên thành phố Hồ Chí Minh, bắt mở cửa buồng lái để y rải truyền đơn. Xong y buộc tổ lái cho máy bay lên cao (7.000 bộ) để y nhảy dù. Bất chấp sự nguy hiểm cho máy bay mà lái trưởng đã nói rõ”. Tao nghĩ máy bay phản lực chở hàng trăm người mà bay thấp như vậy, tiếng động rất kinh khủng sẽ làm bể các cửa kính, gây kinh hoàng cho người dưới đất.
Hưởng gật đầu đáp:
– Đúng! Nếu bay ở độ cao 200 bộ như tờ báo Vẹm này viết, Sài Gòn đã náo loạn lên hết rồi. À! Mày nghe rõ câu Lý Tống trả lời vụ bay cao bay thấp này không?
– Âm thanh thâu không rõ mấy, nên tao chưa nắm được hết.
– Nói cho mày biết: đoạn phim này đã bị cắt xén rất nhiều trước khi đưa cho phóng viên Nam Trân đem qua Mỹ chiếu. Tao thấy chưa có tên không tặc nào lại nhã nhặn, dễ thương giống Lý Tống. Để tao cho mày nghe lại lời Lý Tống nói. Khúc nào nghe không kịp hoặc là không rõ, tao cho quay lại hay sẽ giải thích cho.
Hình ảnh Lý Tống mặc bộ quần áo tù màu xám lợt hiện ra. Lý Tống đứng trong tư thế nghiêm, mắt nhìn thẳng lên bàn chủ tọa, nói từ tốn y như tâm tình:
– Đi máy bay tôi luôn ngồi ghế hạng chót, trong người lúc nào cũng có mang theo cái lưỡi lam và sợi dây dù. Trong đầu óc lúc nào cũng mong đi trên chuyến bay bị không tặc, để tôi bắt không tặc. Điều này bây giờ tôi mới nói ra ở đây, nhưng tất cả các bạn bè ở Mỹ điều biết: tôi ghét nhất là không tặc, vì các hành động dã man của họ.
Hưởng cho máy tạm ngưng, cắt nghĩa thêm:
– Dây dù Lý Tống mang theo là loại đặc biệt, đã thắt “gút” sẵn, ông cũng đã tập luyện thuần thục, để chỉ cần tròng dây vô cổ, dùng một tay giật nhẹ là siết cổ được đối phương ngay. Còn mày có biết vì sao mỗi lần đi máy bay, Lý Tống luôn xin được ngồi dãy ghế cuối cùng, cạnh lối đi và mang theo cái lưỡi lam không?
Huân lắc đầu, Hưởng giải thích:
– Ngồi như vậy dễ quan sát toàn máy bay. Lý Tống lập luận: một khi máy bay bị cướp, chắc chắn tụi cướp sẽ uy hiếp phi công. Nếu bọn chúng có trên 2 đứa, một đứa sẽ ở cuối máy bay để canh chừng hành khách. Ngay lập tức Lý Tống lấy lưỡi lam ra cắt dây an toàn, sợi dây dính cái ổ khóa tòng teng, sẽ trở thành vũ khí để Lý Tống quật tên không tặc gần mình nhất.
Huân khen ngợi:
– Đúng là lối suy tính và hành động của một người lính can trường, dũng cảm, luôn nghĩ tới việc bảo vệ người khác.
Quay trở lại chuyện cướp máy bay, Hưởng nói tiếp:
– Còn thật ra mấy thứ Lý Tống dùng để uy hiếp Phi hành đoàn bữa đó chỉ có: giọng nói đầy uy lực, mấy sợi dây dù với 1 con dao dùng trong bữa ăn trên máy bay thôi.
Hưởng lại mở máy, cho chiếu tới khúc Lý Tống tự biện hộ cho mình:
– … Cái lý do mà tôi viện dẫn không phải để tự bào chữa, mà để nêu rõ cái hành động không tặc của tôi. Trước hết tôi cám ơn cô Thủy Tiên. Cô đã trình bày lúc tôi quàng dây lên cổ, cô tưởng là một người bạn nào đó đùa giỡn. Cái điều đó chứng tỏ lúc choàng dây tôi làm rất nhẹ nhàng, chớ không giống những tên không tặc côn đồ khác: chỉa súng vào đầu bắn chết hành khách, hay bắn chết phi hành đoàn. Thứ nhì, tôi cũng cám ơn vị khách ngồi bên tôi, chỉ mỗi mình ông hay biết máy bay bị không tặc. Còn các hành khách khác họ cứ tưởng máy bay bị sự cố gì đó. Điều đó chứng minh tôi đã tránh để việc không tặc của tôi có thể ảnh hưởng tới hành khách. Tôi cũng tránh tối đa việc đụng chạm tới hành khách. Tránh không làm những hành động gì xúc phạm tới tổ lái. Vì hoàn cảnh bắt buộc tôi phải tạm trói họ. Người thứ ba mà tôi muốn cám ơn nữa là tổ lái. Tôi xác nhận lại là máy bay bay trên 1.000 bộ chớ không phải 200 bộ. Tuy biết rằng có thể để máy bay bay tự động 200 bộ, nhưng tôi đã thay đổi ý kiến và bảo phi công ông cứ bay ở cao độ nào an toàn. Và tôi đã để phi công bay ở cao độ ông tự quyết định.
Nghe tới đây Hưởng lại cho máy ngưng, giải thích thêm:
– Tao nhớ Lý Tống kể lại là đã nói với hai viên phi công như vầy: “Báo cho hai anh biết, người ta đã gài bom bên trong người tôi. Giao cho tôi nhiệm vụ rải truyền đơn, kêu gọi dân Việt Nam nổi dậy lật đổ chế độ Cộng sản. Tôi chỉ có 30 phút để hành động, rồi nhảy khỏi máy bay trước khi bom tự động phát nổ. Xin các anh hãy hợp tác, để giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ và tất cả chúng ta đều được sống”. Vì trói cho lấy có, trói mà sợ nạn nhân đau nên hai cô Thủy Tiên đã tự mở trói tới 2 lần. Chỉ chịu nằm im khi Lý Tống buộc lòng phải nói: “Các cô đừng thấy tôi hiền lành mà giỡn mặt với tôi”. Sau 5 vòng bay dọc theo các trục lộ chính đông người viên phi công phụ mới rải hết 50 ngàn tờ truyền đơn theo hiệu lệnh của Lý Tống đúng vào mục tiêu ông muốn. Vì vậy mới có người nhặt được truyền đơn ngay trên đường Tự Do này. Sau đó mới ra lệnh cho phi công bay cao lên hơn 2 cây số, để chuẩn bị nhảy dù.
Huân cầm tờ báo lên tiếp tục đọc:
– “Khi nữ tiếp viên Nguyễn Xuân Thủy Tiên đem nước đến và quay gót, y liền dùng dây dù quàng vào cổ Thủy Tiên và xiết lại” và, theo Lý Tống, cô tưởng ai đùa nên bảo: “Giỡn gì kỳ vậy?” Do đó, Lý Tống phải chĩa dao ra, chỉ vào ống nhòm quấn vào bắp vế nói lớn: “Tôi có bom và không tặc máy bay nầy!”
Huân hỏi tiếp:
– Rồi Lý Tống nhảy ra bằng cách nào?
– Mới đầu định nhảy ra bằng 2 cánh cửa chính, nơi hành khách lên xuống, nhưng sức gió quá mạnh, cửa chỉ hé mở 10 độ và kẹt lại. Vì vậy phải dùng tới cái cửa sổ trong buồng lái, nơi mở ra để rải truyền đơn. Cái cửa hơi nhỏ, nên lúc đang thò đầu ra suy tính xem chui bằng cách nào, thì gió và áp suất chênh lệch trong ngoài tạo thành một lực thật mạnh, hút Lý Tống ra ngoài không trung. Tới lúc mở dù, giây dù vướng vào chân, không chịu bung, cứ lao đầu xuống như tên. Lý Tống uốn người lên nắm giây dù, 2 chân vùng vẫy, chòi đạp nhưng vô hiệu. Khi chỉ cách mặt đất vài trăm mét, quá tuyệt vọng, Lý Tống hét lớn: “Lão Tặc Thiên! Đúng là nhà ngươi chơi xỏ ta rồi!”
Huân vừa cười vừa nói:
– Như vậy ngoài Tôn Ngộ Không ra, còn có thêm một người dám kêu ông Trời là Lão Tặc Thiên, đó chính là Lý Tống.
– Lạ thay! Ngay sau tiếng hét đó, lập tức giây dù sút khỏi chân, cánh dù bung ra. Sau này nghiệm lại mọi sự việc, Lý Tống nhận ra 3 điều: Thứ nhất: nhờ sức gió hút và người tự động duỗi thẳng như có ai bế ra, nên chân không đập vào thành cửa sổ dưới và dù không vướng vào thành trên. Thứ hai: nếu dù bung ngay lúc ra khỏi phi cơ, rất có thể Lý Tống đã bị bắn chết bởi 2 chiếc Migs bám theo sau, hoặc các loại súng lớn nhỏ đang chĩa lên trời chờ sẵn vì viên phi công đã báo cho dưới đất biết rõ tọa độ lúc vừa nhảy ra. Thứ ba: Lý Tống rơi xuống nhằm đúng vào giữa cái ao rau muống nhỏ, nên nước với lớp bùn dầy trong ao trở thành cái đệm đã cứu sống ông.
– Tao tin là ông Trời bị “chửi” oan, vì chính ông Trời đã ra tay cứu mạng Lý Tống.
Hưởng gật đầu đáp:
– Đúng! Sau cái vụ “thập thập thập,… tử nhất sinh” đó, Lý Tống đã tin có Thượng Đế. Chắc Thượng Đế muốn thử lòng gan dạ của Lý Tống. Biết đâu chừng nếu Lý Tống run sợ, khóc lóc, van lạy,… Ngài đã cho đi chầu Diêm vương rồi! Nhưng không ngờ tên này lớn gan, dám quát mắng cả mình, nên cứu nó sống, để xem nó tiếp tục làm những trò gì?
*
Huân lại cầm tờ báo lên, tìm kiếm một lúc, đọc một đoạn nữa:
– “Khi nhảy dù xuống đất, Tống đã bị quân và dân quận 8 nhanh chóng bắt gọn”. Vụ bị bắt này có đúng vậy không?
Hưởng giả bộ hiểu hơi lệch lạc:
– Đất nào? Nếu rơi trúng đất, Lý Tống tiêu tùng rồi. May mà rớt xuống ngay giữa ao rau muống. Còn thêm một cái may nữa là thân người chìm trong nước bùn, chỉ ngang tới vành môi trên. Nước mà cao thêm vài phân là Lý Tống theo ông theo bà rồi. Vì phải mất tới 15 phút, Lý Tống mới rút được hết thân người ra khỏi bùn để leo lên bờ ao.
– Từ trên trời rớt xuống mạnh như vậy, trong nhà có ai hay không?
– Có chứ! Nghe tiếng như trời gầm ở bên ngoài, người trong nhà xách đèn pin chạy ra rọi tùm lum. Tìm hoài không thấy gì mới trở vô. Sở dĩ họ không thấy là vì cái đầu Lý Tống được rau muống che khuất. Sau đó Lý Tống chôn dù dưới bùn, vội giặt áo quần sạch sẽ rồi mới tìm đường thoát thân.
Nghe đến đây, Huân nhắc lại điều mình muốn biết:
– Tao muốn hỏi mày cái vụ bị quân và dân quận 8 nhanh chóng bắt gọn có đúng không?
Hưởng không trả lời thẳng câu hỏi, cứ chậm rãi kể theo ý mình:
– Rời khỏi cái ao rau muống, Lý Tống bò trong các ruộng lúa. Nhờ lúa đã hơi cao với nước trong ruộng lấp xấp, nên Việt cộng tìm không thấy. Còn chó thì đánh hơi được, sủa om xòm nhưng không biết đích xác chỗ Lý Tống ẩn nấp.
– Bộ lúc đó tụi nó tung quân đi tìm hả?
– Đúng! Lý Tống thấy nhiều toán lính dẫn cả chó đi dọc theo các bờ mẫu, nên phải bò miết dưới ruộng cho tới khi không còn nghe động tĩnh gì nữa, mới đứng lên lần theo các đường mòn mà đi. Cứ đi miết như vậy chừng ba tiếng đồng hồ sau thì gặp một con lạch nhỏ, hai bên có khá nhiều nhà cửa. Vì sợ đi trên đường dễ bị phát giác, Lý Tống tuột xuống nước, cứ thế bơi dọc theo con lạch độ gần cả giờ nữa thì gặp một con sông khá rộng. Tới chừng vô tù rồi, mới biết đó là Rạch Ông. Lý Tống nghĩ: nếu bơi sang bờ bên kia sẽ bớt nguy hiểm hơn, nhưng đâu có ngờ phía sau lưng mới là Sài Gòn, nơi ông đang nhắm tới. Khi bơi, Lý Tống suýt 2 lần bị chân vịt tàu chém đứt đầu nếu không lặn kịp vì tàu không mở đèn, có lẽ buôn lậu. Lúc vừa tìm chỗ leo lên bờ, chợt nhìn thấy một chỗ có thiệt nhiều ghe nhỏ, Lý Tống liền bơi lại đó, định leo lên ghe rồi bước lên bờ cho quần áo, tay chân khỏi dính sình bùn. Nào ngờ đã gần nửa đêm rồi mà vẫn còn một thanh niên, không biết đang làm cái gì bên mấy bụi chuối. Khi nhìn thấy có người từ dưới rạch leo lên ghe, cậu ta liền tri hô thiệt lớn: “ăn cắp ghe, ăn cắp ghe…”
Huân thắc mắc:
– Sao lại nghi người ta kỳ cục như vậy?
– Vì thời buổi đó vùng này xảy ra nhiều vụ ăn cắp xuồng ghe lắm. Thế là cả xóm ùa chạy ra vây bắt. Lý Tống nhảy xuống khu hồ rộng bên trái khi gặp 3 thanh niên chạy ngược chiều. Khi Lý Tống lặn tẩu thoát, 3 người nhảy lên ghe đuổi theo. Thấy Lý Tống đội bèo lên thở, họ dùng sào đập túi bụi lên đầu. Lần thứ 3 họ dùng sào đâm vào mặt, trúng rơi kính cận thị. Do quá nguy hiểm, Lý Tống phải ngoi lên, giong tay đầu hàng. Khi kéo Lý Tống lên, nhìn thấy một người đàn ông đứng tuổi, cao ráo, trắng trẻo, đẹp trai, mặc quần Jean, áo thun dài tay loại “sịn”,… biết chắc không phải dân ăn trộm. Một người vội lên tiếng hỏi: “Ông làm gì ở dưới sông vậy?” Lý Tống liền móc passport, dơ lên cho mọi người thấy rồi nói: “Tôi ở bên Mỹ về, đi chơi gái rủi bị côn đồ chận đường trấn lột. Tôi sợ quá mới nhảy xuống sông bơi qua bên này”. Người dân không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng rủi thay, lúc đó lại có 2 tên Công an chạy Honda tới. Nghe dân tình kể lại chuyện, tụi nó liền đưa Lý Tống về trụ sở. Trên đường đi, ngồi giữa chiếc Honda chở ba, Lý Tống đã định đánh đầu vào mặt tên ngồi sau, siết cổ tên ngồi trước, cướp xe chạy trốn. Nhưng nghĩ lại, sau khi chạy đi rồi 2 tên này sẽ tri hô, báo động, như vậy càng khó thoát thân. Nên đành bỏ ngay ý định đó. Ít giây sau chợt thoáng nghĩ: coi mòi hai tên này muốn làm tiền, nên vội lo lót trước bằng cách nói với tụi nó: “Trong túi tôi hiện giờ có cả thẩy 8 ngàn đô, tôi cưa cho hai anh phân nửa, tôi phân nửa rồi hai anh để cho vụ này chìm xuồng luôn. Nhớ đừng làm rùm beng vụ tôi đi chơi gái mất mặt lắm!”. Nhận tiền rồi, tụi nó đưa Lý Tống vào căn phòng trên lầu 2, rồi đi qua phòng kế bên lo chia chác. Nhưng chắc là có được số tiền quá lớn, phải chia chác hơi lâu, nên mãi một hồi sau một tên mới quay trở lại, trao cho Lý Tống tờ giấy đánh máy cùng quyển sổ Passport rồi nói: “Anh ký tên vô tờ giấy phạt 5 ngàn đồng về tội gây rối trật tự này rồi ra về”. Lý Tống chưa kịp cầm tờ giấy, bất chợt điện thoại trên bàn reo vang. Nhắc ống nghe lên, chẳng rõ tên Công an nghe được câu gì mà cứ há hốc mồm ra, quýnh quáng, hốt hoảng, ấp úng gào lên: “Hớ! Hớ! Hớ… Không tặc, không tặc,…các đồng chí không tặc, không tặc,…”. Thế là Lý Tống bị bắt.
Huân lắc đầu nói:
– Cả năm sáu tiếng đồng sau Lý Tống gặp xui nên mới bắt được. Vậy mà vẫn cố tình viết láo: “bị quân và dân quận 8 nhanh chóng bắt gọn”. Chuyện bắt sớm bắt trễ có gì quan trọng đâu mà không chịu viết đúng!
Hưởng kể tiếp:
– Khi xe Công an tới, Lý Tống không chút sợ sệt, bình thản bước lên. Sau đó bị đưa về tạm giam ở gần bến Bạch Đằng.
Huân lại hỏi:
– Lý Tống có bị đánh đập gì không?
Hưởng lắc đầu:
– Tên lấy cung Lý Tống mang cấp bậc Trung tá, chưa kịp hỏi han gì, đã bị Lý Tống “đánh” phủ đầu bằng giọng đanh thép: “Tôi báo cho ông biết: tôi từng ở tù khắp các nước Đông Nam Á, từ bên Miên sang Thái Lan rồi Singapore. Còn riêng Việt Nam cũng trên chục nhà tù. Tôi đã thưởng thức tất cả các đòn tra tấn dã man, tàn bạo nhất rồi. Giờ tôi đã rơi vào tay các ông, các ông có chế ra đòn tra tấn nào mới nhất, kinh khủng nhất, tinh vi nhất, xin mời cứ tự nhiên.”
Huân vọt miệng khen:
– Ông Lý Tống này vừa quá khôn ngoan vừa quá hiên ngang! Nói kiểu đó là đưa tụi nó vô thế kẹt rồi!
– Mày nhận xét đúng, nhờ ra tay trước như vậy, buộc tên Trung tá chống trả lại bằng cái luận điệu cũ rích, y chang như lời mấy tên quản giáo nói với tụi mình hồi còn cải tạo: “Cách mạng luôn khoan hồng, không dùng hình phạt lăng nhục, làm mất danh dự,…” Không chờ tên Trung tá nói dứt câu, Lý Tống vội cướp lời: “Chắc ông dư biết lời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng tuyên bố: Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm. Tôi không bao giờ tin lời các ông nói đâu”. Tên Trung tá liền hứa: “Tôi đảm bảo với anh, từ giờ phút này trở đi, nếu có bất cứ một cán bộ nào nói nặng nhẹ hay lăng nhục, đánh đập anh, tôi sẽ nhốt đầu nó ngay”. Sau đó tụi nó hỏi cái gì, Lý Tống thẳng thắn trả lời ngay, chẳng cần dấu diếm điều gì.
Huân lại cầm tờ báo lên đọc:
– “Trong lời tự bào chữa và lời nói cuối cùng, bị cáo Lê Văn Tống đã dành hết thời gian để bày tỏ lòng biết ơn đối với chính quyền và cơ quan điều tra Việt Nam về sự đối xử, theo lời của Tống là, thân ái, luôn động viên chăm sóc cho Tống cả về sức khỏe lẫn nhân phẩm, cũng như cho phép thân nhân tới thăm nom, trong suốt thời gian tạm giam.”
Đọc xong Huân phì cười, chẳng cần hỏi han, đưa ra ngay nhận xét:
– Tên ký giả này viết đúng bong đường lối của Cách mạng!
Hưởng châm chọc:
– Ý mày nói là viết láo, viết sạo đó phải không?
– Thì còn gì phải hỏi nữa! Vì viết tào lao sợ chúng chửi, nên tên viết bài tường trình này không dám để tên thật, chỉ ghi là “C.T.”
– Mày biết vì sao tên này chọn “láo danh” “C.T.” không?
Huân lắc đầu, Hưởng hỏi tiếp:
– Mày từng nghe qua một “láo danh” khác là “C.B.” chưa?
Huân lắc đầu, giương mắt chờ đợi, Hưởng giải thích:
– Sở dĩ tao biết “C.B.” là viết tắt từ chữ “Của Bác”, tức Hồ Chí Minh, khi đọc bài “Địa Chủ Ác Ghê”. Bài này tố cáo bà Nguyễn Thị Năm, một trong những người đóng góp tiền của nhiều nhất cho Việt Minh. Từng nuôi ăn, cho chỗ ở hầu hết tụi cán bộ gộc như: Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,… Vậy mà chính Hồ Chí Minh viết bài kể tội bà Năm. Sau đó đem bà ra hành quyết. Chắc chắn “C.T.” là hậu duệ của “C.B.”, nên mới viết láo siêu như vậy!
Rồi Hưởng, nói tiếp những điều mình biết:
– Từ nơi tạm giam, tụi nó đưa Lý Tống qua nhốt vào khu tù nhân bị án tử hình trong khám Chí Hòa. Tụi nó muốn dùng loại tù dữ dằn này để theo dõi và cũng có thể giết chết Lý Tống. Nhưng tụi nó bị phản ứng ngược lại, vì chính tên Phúc Buồi, tay anh chị ghê gớm nhất, bị kết án tử hình vì đã giết tổng cộng: 4 tên bộ đội, 4 tên công an và 2 người dân thường. Khi hay biết chuyện Lý Tống cướp máy bay và đã từng giết 55.678 VC (nói xạo nhưng có số 5,6,7,8 cho dễ nhớ) trong các trận oanh tạc trước đây, Phúc Buồi hết sức nể phục, tôn Lý Tống làm “Đại Ca”. Tao nhớ Lý Tống còn kể một chuyện khá vui vui như vầy.
Nhấm nháp chút cà phê xong, Hưởng lại nói:
– Một khi bị kết án tử hình, người tù chỉ được mặc mỗi cái quần xì líp, để tránh việc dùng áo quần, mền, vải đắp làm dây treo cổ tự tử hay vượt ngục, vì vậy phải ngủ ban ngày, thức ban đêm cho bớt bị muỗi cắn. Lý Tống thì suốt ngày bị kêu lên tra hỏi, nên cần ngủ ban đêm. Nhưng Lý Tống không thể nào ngủ được, vì các phòng khác cứ hát hò trửng giỡn quá lớn. Vì vậy có lần Lý Tống đập cửa kêu cán bộ tới phàn nàn: “Các ông quần tôi suốt ngày mệt gần chết, về tới đây lại bị tụi nó ca hát, la ó thì làm sao tôi ngủ được! Ông xuống nói tụi nó: vặn ‘vô lim’ nhỏ xuống để cho Ngài Không Tặc ngủ”. Tên cán bộ liền than thở: “Tụi nó là dân tử hình, đâu có đứa nào sợ cán bộ! Hồi trước có một cán bộ vô mở cùm, bị tụi nó đập chết. Bây giờ muốn đưa ai vô trong phòng nào, hỏi tụi nó cho phép mới được”. Lý Tống lập lại lời yêu cầu: “Ông cứ xuống đứng bên ngoài la lớn lên: Ngài Không Tặc yêu cầu mọi người hát nhỏ xuống, để cho Ngài ngủ”. Chỉ một câu nói vậy thôi mà Ngài Không Tặc Lý Tống được ngủ yên kể từ đó; chưa kể có lúc mỗi đêm, trước khi ngủ từ phòng 1 đến phòng 30 đều gào lên lời chúc lớn, vang dội cả 8 khu bát giác Khám Chí Hòa: “Phòng số 1, Chúc Ngài Không Tặc, đêm nay ngủ ngon, mơ nhiều gái đẹp, sớm trở về làm Tổng Thống nghe hôn!” Rồi các phòng kế tiếp. Sau mỗi lời chúc, Lý Tống dộng mạnh chân xuống nền nhà 3 tiếng rồi gào lớn: “Ừ! Ừ! Ừ!” đáp lễ! Tù Khu Tử hình “tâm phục, khẩu phục” làm thủ tục nầy theo lệnh Phúc Buồi vì Phúc Buồi cũng tin chuyện Lý Tống có sẵn quân đóng ngoài biển, dọc biên giới, chờ lệnh Tư Lệnh là tấn công ngay nên hỏi: “Nếu sau này khi Đại Ca lật đổ được chế độ CS, Đại Ca sẽ đối xử với đám tử hình như tụi em thế nào?” Lý Tống đã đánh đòn tâm lý với với giải pháp: “Tao sẽ thả tất cả anh em tử hình với chỉ một điều kiện: Đứa nào tái phạm chính tao sẽ chặt đầu trị tội đứa đó!”
Kể xong Hưởng hỏi bạn:
– Mày thấy đối xử như vậy có thân ái, rộng lượng không? Còn việc cho phép thân nhân tới thăm nom, trong suốt thời gian tạm giam. Đúng! Nhưng phải thăm nuôi tại phòng giám thị, có Sếp Khám Chí Hòa và cán bộ an ninh chủ trì, cấm nói chuyện hải ngoại và thư từ qua Mỹ. Lý Tống chống lại bằng cách tuyệt thực đúng 48 ngày (đúng lúc 48 tuổi “1993-1945”).
– Hồi học phương pháp nhịn đói để chữa bệnh với ông thầy ở Đà Lạt, tao tập nhịn mới có một tuần lễ mà đã thèm ăn muốn chết. Lý Tống siêu thiệt! Nhịn liên tiếp 48 ngày, thật đáng bái phục!
*
Lần này chính Hưởng cầm tờ báo lên đọc:
– “Lý Tống nguyên là Sĩ quan Không quân chế độ cũ Sài Gòn, đã gây nhiều tội ác với nhân dân. Tháng 4-1975, Tống bị bắt làm tù binh, được chính quyền cho hưởng chế độ học tập cải tạo. Sau đó y trốn trại vượt biên ra nước ngoài”.
Huân cười nói:
– Tao thấy chỉ cần đổi tên họ và vài chi tiết là giống y chang trường hợp trốn tù vượt biên của mày. Tao định hỏi vài điều nữa mà lại quên mất tiêu. Đưa lại tao tờ báo, để tao nhớ lại coi.
Huân cúi xuống tìm kiếm một lúc mới ê a đọc, rồi hỏi:
– “Trong phần luận tội, xem xét mức độ, tính chất hành vi phạm tội của Lê Văn Tống, có xét đến nhân thân (cha, anh, chị Lê Văn Tống là những người có công với Cách mạng)” Mày thấy điều này đúng không?
Hưởng lắc đầu:
– Lý Tống đã xác định rõ ràng trước tòa, nhưng trong video đã bị kiểm duyệt cắt mất. Lý Tống nói như vầy: “Gia đình tôi là gia đình Cách mạng chân chính, chớ không phải gia đình Cách mạng Cộng sản. Cha tôi chống Pháp bị Pháp chặt đầu. Anh tôi bị Pháp bắt bỏ tù phải vượt ngục trốn vào bưng biền cuối cùng đi ra Bắc trở thành người chống Mỹ. Còn tôi và tất cả mọi người còn lại đều chống Cộng, bị Cộng sản liệt vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động. Ngay tại phiên tòa này, nếu tôi không giữ được danh dự cùng khí tiết, thì sau này con cháu tôi cũng sẽ chống tôi”.
Máy lại mở lên, gương mặt điển trai, cương nghị của Lý Tống hiện ra, âm thanh giọng nói lần này dễ nghe hơn:
– Tôi nói lại cái vấn đề tên tuổi và quốc tịch. Tên tôi là Lý Tống, tôi thấy tòa vẫn dùng cái tên cũ nó không “logic” chút nào cả. Tại vì từ năm 1965 tôi đã bắt đầu dùng tên Lý Tống. Đến năm 1975 tôi đã làm tất cả các thủ tục cần thiết để đổi sang tên Lý Tống. Cái thứ nhì nữa là quốc tịch tôi là quốc tịch Mỹ mà trong này lại đề là quốc tịch Việt Nam.
Nói đến đây Lý Tống nhấn mạnh thêm:
– Hồi trước tôi có khai quốc tịch hiện tại là Mỹ. Quốc tịch cũ là Việt Nam Cộng Hòa, mà bây giờ ở đây vẫn ghi là quốc tịch Việt Nam. Ngụ ý tôi là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tôi thấy điều đó không đúng.
Lúc Hưởng cho máy ngưng, Huân lắc đầu diễu cợt:
– Người ta xác nhận là đã đổi tên Lý Tống từ lâu, vậy mà cứ lải nhải: Lê văn Tống, Lê Văn Tống hoài. Đã không nhận thuộc gia đình có công với Cách mạng rồi mà vẫn cố quy chụp cái mũ Cộng sản lên gia đình người ta, đúng là thứ ngoan cố!
Hưởng cười cười hỏi bạn:
– Mày có biết vì sao vậy không?
Huân lắc đầu, Hưởng giải thích:
– Tòa án thì có nhưng xử thì không. Bộ mày không thấy tụi nó chỉ đọc toàn những điều viết sẵn ra giấy, kể luôn cả bản án. Trong giấy viết Lê Văn Tống thì phải đọc Lê Văn Tống, viết thuộc gia đình Cách mạng thì phải thuộc gia đình Cách mạng. Lệnh đã ban ra thì đâu có ai sửa đổi được!
*
Hai người lại dán mắt vào màn hình, tới lúc khúc phim chấm dứt, Hưởng vừa định tắt máy, Huân liền nói:
– Mày mở cho tao xem lại lại khúc Lý Tống bị tòa đòi phạt nửa triệu đô la coi.
Vừa cho quay lại cuộn phim Hưởng vừa nói:
– Tao chưa thấy vở tuồng nào diễn dở như vở xử án xử Lý Tống này.
Huân cãi:
– Chỉ có diễn viên phụ dở ẹt thôi, chớ diễn viên chính thì vừa đẹp trai, vừa hiên ngang,… Mỗi câu Lý Tống nói ra đều vạch trần sự giả dối, kém hiểu biết của tụi ngồi bên trên luận tội.
Huân nói tới đó, giọng Lý Tống tự biện hộ cất lên:
– “… Buộc tội tôi phải bồi thường số tiền thiệt hại. Tôi không biết ở đây thế nào? Nhưng ở bên Mỹ, nếu tôi muốn lái một chiếc xe hơi, tôi phải đóng bảo hiểm. Bất cứ lúc nào xe tôi đụng xe người khác, hay xe người ta đụng xe tôi, công ty bảo hiểm đều trả tiền. Tôi nghĩ công ty hàng không Việt Nam là một công ty lớn, không thể nào mướn một chiếc máy bay của Bungari mà lại không mua bảo hiểm. Bên Mỹ nếu chính bản thân tôi không mua bảo hiểm mà vẫn lái xe, sẽ bị cảnh sát phạt. Tôi nghĩ là công ty hàng không đã mua bảo hiểm, thì việc hư hại do hành khách gây ra, hãng bảo hiểm phải có nhiệm vụ trả tiền cho việc thiệt hại đó”.
Hưởng cho dừng đoạn video, nói với bạn:
– Theo tao hiểu thì hãng bảo hiểm phải bồi thường cho vụ này. Còn nếu muốn Lý Tống bồi thường, chính hãng bảo hiểm phải kiện Lý Tống ra tòa. Nhưng Lý Tống đâu có tiền, lôi ra tòa cũng huề cả làng thôi. Nắm người có tóc chớ làm sao nắm được người đầu trọc!
Máy mở lại, giọng Lý Tống hơi bớt khó nghe:
– Lúc bị bắt, tôi có mang một cái thành kiến là Việt Nam là một trong những quốc gia bị lên án là nước vi phạm nhân quyền nặng nề. Cho nên tôi có thành kiến khi bị bắt thế nào tôi cũng bị tra khảo vì vậy tôi đã tuyên bố với ông Trung tá: Thưa Trung tá, tôi đã ở tù khắp các nước Đông Nam Á trong năm 1981 tôi đã nếm mùi tất cả các hình phạt cực kỳ kinh khủng nhất. Bây giờ tôi sẵn sàng chịu bất cứ hình phạt nào, bất cứ các cuộc tra tấn dã man nào, ông cứ tự nhiên,…
Nói đến đây, tiếng nói Lý Tống lúc bị cắt ngang, âm thanh lúc còn lúc mất, một hồi sau mới tạm nghe lại được:
– Tôi nghĩ rằng đây là giai đoạn chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muốn hòa nhập vào trong cộng đồng thế giới văn minh nhân loại. Tôi nghĩ đây là dịp để quý vị và chính phủ này, chứng tỏ cho thế giới thấy rằng: nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói chung và nền Tư pháp nói riêng, hành xử chức năng của mình theo tiêu chuẩn thế giới, nghĩa là Tư pháp độc lập với Hành pháp. Tất cả những phán quyết của tòa án ở đây, phải phán quyết với tính cách quốc tế, chớ không phải có tính cách nội bộ, địa phương. Dù tôi có bị buộc tội trước tòa án này hay tòa án quốc tế thì các bản án cũng đều giống như nhau. Thêm vào đó tôi cũng xin bổ túc một điều, là lúc trở về đây, tôi nhân danh Tổ Quốc, Nhân Dân và Công Lý. Quý vị ngồi trước mặt tôi cũng nhân danh Tổ Quốc, Nhân Dân và Công Lý để kết tội tôi. Trong phiên tòa này quý vị là những quan tòa và tôi là bị cáo. Nhưng tôi nghĩ rằng: sau phiên tòa này còn có một phiên tòa khác là tòa án lịch sử, trong tòa án lịch sử đó nhân dân Việt nam sẽ là vị quan tòa công tâm, họ sẽ là người định công định tội tôi.
Huân buột miệng khen:
– Lý Tống nó câu này quá tuyệt!
Hưởng nói thêm:
– Lúc ngồi xem cùng với Lý Tống, ông ấy có giải thích: “Câu nói này đã bị tụi nó cắt mất mấy chữ. Nguyên văn câu cuối phải là: nhân dân Việt nam sẽ là vị quan tòa công tâm, sẽ là người định công định tội tôi và các ông”.
Phim lại bị cắt, chuyển qua một đoạn nói khác của Lý Tống:
– Và câu cuối cùng, nhân đây tôi cũng xin phép quan tòa: Hồi nãy tôi có nhờ ông anh tôi mua hai bó hoa. Ngày trước tôi đến Thái Lan, định ăn cắp máy bay không thành, tôi đã gởi lại một cái thơ để xin lỗi,… Nhân đây tôi cũng xin lỗi hai cô Thủy Tiên, mặc dù tôi đối xử với hai cô bằng cả tấm lòng thành, nhưng hành động đó chắc chắn đã gây cho hai cô sợ hãi. Hôm nay xin tòa cho phép tôi tặng mỗi cô một bó hoa để xin tạ tội”.
Huân cười:
– Tụi nó có cho phép làm vậy không?
– Sức mấy mà tụi nó cho! Tụi nó bảo việc này chỉ được làm ngoài phiên tòa.
Huân phì cười:
– Nếu làm ngoài phiên tòa, cần chó gì phải xin phép!
Hưởng nói tiếp:
– Lý Tống có nói riêng cho tao biết cái lý do khi nghĩ tới việc tặng hoa. Trước là Lý Tống nhằm mục đích biến chốn Tòa án VC nghiêm trang thành nơi trăng hoa tán gái, vì cả hai cô Thủy Tiên đều rất đẹp. Sau là coi công lý của Việt cộng như là trò đùa. Có lẽ chánh án cũng hiểu được thâm ý nầy nên bác bỏ.
Huân lắc đầu nói:
– Tao không thể nào đoán ra nổi những hành động và lối suy nghĩ khác người của Lý Tống!
*
Những điều thắc mắc, bình phẩm về đoạn video cùng tờ báo vừa xong, Huân vẫn muốn nối tiếp câu chuyện bằng câu hỏi:
– Giờ tao muốn nghe mày kể thêm chuyện Lý Tống ở trong tù với lý do vì sao lại được thả ra sớm?
Hưởng đáp:
– Sau khi bị tuyên án, tụi nó đưa Lý Tống tới Trại Xuân Lộc, nhưng Trại trưởng không nhận với lý do: “Ông là tù vượt ngục nổi tiếng. Nếu ông trốn đi, tôi sẽ vào tù thế chỗ ông!” Do đó, VC chuyển Lý Tống ra Trại A 20 Xuân Phước. Lý Tống vượt ngục không thành, nên bị chuyển ra Bắc, Trại Ba Sao, Nam Hà với các đầu vụ khác là Trần Tư, Đoàn Viết Hoạt, Trần Mạnh Quỳnh và A Quý (người Singapore buôn lậu hàng tấn vàng). Tới trại mới, tù nhân nào cũng phải học tập về nội quy của trại. Học xong tới phần viết bản tự kiểm. Giống như chuyện bắt buộc, ai cũng phải viết tương tự như nhau: “Tôi nguyện sẽ học tập tốt, cải tạo tốt, chấp hành nội quy tốt,… để sớm được Cách mạng khoan hồng”. Riêng Lý Tống thì viết và đọc trước mặt các bạn tù: “Tôi trở về đây là để thay đổi chế độ và luật pháp chứ không phải để tuân thủ và chấp hành nội quy rừng rú, mọi rợ, lạc hậu của các ông. Tôi nguyện sẽ cải tạo đến chừng nào chế độ Cộng sản tốt hoặc là bị lật đổ, lúc đó tôi mới trở về.”
Huân lắc đầu thán phục:
– Quả là một con người khí phách. Rồi tụi nó có bắt Lý Tống viết lại không?
Hỏi xong Huân tự giải đáp:
– Sức mấy mà Lý Tống chịu làm theo tụi nó.
Hưởng nhìn Huân cười, chậm rãi kể tiếp:
– Chuyện viết tự kiểm, hứa hẹn điều này điều nọ, chưa thấm thía gì so với vụ tóc tai. Nội quy buộc người tù hàng tháng đều phải cắt tóc. Lý Tống thì ngược lại, nhất quyết không cho ai đụng đến mái tóc mình. Nên anh tù được giao cho việc cắt tóc, phải xuống nước năn nỉ: “Đại ca ơi! Xin thương em. Ông trưởng trại ra lệnh: em phải cắt tóc cho anh, nếu không ông ấy sẽ bắt em ra ngoài lao động”. Tuy thương hại anh ta, nhưng Lý Tống buộc lòng phải lắc đầu từ chối: “Chuyện phải đi lao động là chuyện của em. Còn anh mà để em hớt tóc, tức là anh chịu nhượng bộ, như vậy tụi nó sẽ lấn tới. Chuyện hớt tóc tuy nhỏ nhưng là chuyện sống chết của anh. Nó có bắn chết anh cũng không sao cả, nhưng tuyệt đối không được đụng đến mái tóc của anh.”
– Rồi chung cuộc ra sao?
– Vì không ai có thể cắt được tóc Lý Tống, nên Đại tá Nguyễn Tiến Lấn, giám đốc trại tù, đích thân cầm kéo với tông đơ vào phòng giam. Nhìn thấy Lý Tống, Đại tá Lấn cố làm ra vẻ thân mật, vừa cười vừa nói: “Anh Lý Tống à, tôi biết tụi nhỏ cắt tóc không đẹp nên anh chê. Còn tôi đảm bảo với anh, tôi cắt rất đẹp, vậy anh để tôi cắt cho anh nhé!” Lý Tống liền đưa tay lên chỉ vào đầu tóc, đôi mắt như đổ lửa, nhìn thẳng mặt tên trưởng trại, miệng hét như sấm nổ: “Ông có thể cắt cái đầu tôi, nhưng không thể cắt tóc tôi!” Đại tá Lấn như bị đớ lưỡi, chân từ từ lui dần, miệng ú ớ: “Thôi! Thôi!… Không hớt thì thôi! Không hớt thì thôi!…” Kể từ đó chẳng còn ai nói năng gì tới mái tóc của Lý Tống. “Lịch sử mái tóc dài” này luôn là đề tài phong phú, để Lý Tống kể cho đồng hương nghe trong những buổi hội thảo khắp trên thế giới.
Chuyện tóc dài vừa dứt, Hưởng kể tới chuyện thăm tù:
– Lý Tống làm cái gì cũng khác người. Ở trong tù mà ông nhắn ông anh Hoàng Nhân đi may rồi gởi vô cho ông bộ đồ vest bốn túi kiểu ký giả, để mặc mỗi khi có người thăm nuôi. Tới chừng tòa Đại sứ Mỹ gởi Lãnh sự tới, Lý Tống liền nghĩ trong đầu: khi người Mỹ chưa tới, tiếng nói mình còn yếu. Giờ tìm đến tận đây rồi, có cho vàng tụi nó cũng không dám đụng tới mình. Nên lúc gọi ra gặp mặt, Lý Tống “diện” nguyên bộ vest 4 túi, nhưng cai ngục bắt phải mặc đồ tù như mọi người khác. Lý Tống liền nói như tạt nước vào mặt viên cai ngục: “Nè! Xin lỗi mấy ông nghe, các ông mặc đồ đại cán, trung cán, tôi ăn mặc không hơn các ông thì thôi, nhưng tệ lắm cũng phải bằng các ông. Tôi dứt khoát không mặc bộ đồ tù như mấy thằng ăn cướp, ăn trộm đâu! Tôi không ra gặp ai hết.” Mấy tên cai ngục cứ thụt ra thụt vô suốt gần cả tiếng đồng hồ vẫn không lay chuyển được Lý Tống. Cuối cùng phải báo cáo lên Đại tá Lấn, nhưng tên này thấy Lãnh sự sốt ruột hỏi tới hỏi lui nên bảo: “Mặc gì kệ nó. Mau dẫn lên đây ngay!”
Huân cười:
– Vậy thì tên Tiến Lấn này chỉ “tiến lấn” người khác, gặp Lý Tống chỉ có nước “chém vè” thôi!
– Chẳng những cai tù bị Lý Tống cự nự, ông còn cự luôn ông Lãnh sự Mỹ nữa.
Huân dương to đôi mắt hỏi lại:
– Chuyện gì mà ngược đời vậy?
– Mày nghe kỹ câu chuyện này rồi, sẽ chẳng thấy ngược đời tý nào cả. Vì Lý Tống chẳng những nói thẳng ruột ngựa mà không sai chút nào.
Phân tích xong, Hưởng mới tuần tự kể:
– Lúc Lý Tống bước vào phòng tiếp tân, đã nhìn thấy ngoài ông Lãnh sự ra còn có thêm: người Thông dịch, Đại tá Lấn Giám đốc với Cục trưởng Cục trại giam ngồi bên trong. Khi nghe viên Lãnh sự hỏi: “Cán bộ ở đây báo cho tôi biết: anh không chấp hành tốt nội quy phải không?” Lý Tống nghiêm mặt đáp lại: “Vào trại tù này, ông cần mang theo bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, để cho mấy ông ở đây biết rõ về “Tù Quyền”. Chớ không phải ông vào đây để nghe họ muốn nói gì thì nói. Ông phải hỏi xem họ có vi phạm điều gì trong “Tù Quyền” không? Ông phải chứng tỏ rằng: ông là Lãnh sự một đại cường quốc lãnh đạo thế giới! Chớ không phải là Lãnh sự Miên, Lào, Dimbabuê… vô đây nhận lệnh của Hà Nội. Ông mà còn như vậy, thì đừng vào đây thăm tôi nữa, tôi không tiếp đâu! Ông đừng làm mất mặt, mất danh dự của nước Mỹ.
Huân hỏi:
– Mấy tên cai tù có hiểu Lý Tống nói gì không?
– Hiểu chớ! Vì Thông dịch viên dịch lại liền.
– Ông Lãnh sự có phản ứng gì không?
– Ông có viết thư trần tình với gia đình Lý Tống. Nhưng từ đó ông thay đổi thái độ. Vì vậy cứ đều đều mỗi 3 tháng, Lý Tống lại được Lãnh sự Mỹ vào thăm.
– Tao cũng phục ông Lãnh sự Mỹ. Rồi lý do gì mà Lý Tống được thả sớm?
– Do sự tranh đấu quyết liệt của đồng bào hải ngoại, và để được Mỹ chấp nhận bang giao, và hưởng quy chế Tối Huệ quốc, VC đã phải sửa đổi luật: Tù nhân phải thi hành 1/3 bản án thành 1/4 bản án để được hưởng ân xá, để trả tự do cho Lý Tống và tất cả tù nhân chính trị và tôn giáo nổi tiếng hoặc từ hải ngoại trở về vào dịp Quốc khánh VC 2-9-1998. sau gần 6 năm tù. Chuyện thả ra cũng ly kỳ lắm, để tao kể mày nghe. Một bữa tự dưng tên cán bộ Nam an ninh tới phòng giam hỏi Lý Tống: “Anh có muốn mặc đồ vest chụp hình để giữ làm kỷ niệm không?” Nghe hỏi Lý Tống hơi nghi: chắc lại phải chuyển trại, nhưng vẫn tỉnh bơ diện Vest đứng tại phòng cho nó chụp. Hôm sau y đưa Lý Tống lên phòng Giám đốc, Đại tá Lấn dụ dỗ: “Nếu anh chịu viết một bản kiểm điểm, đại khái là: ‘Cán bộ nhà tù đối xử với tôi rất tốt, hoàn toàn không đánh đập, hành hạ, lăng nhục tôi. Tôi xin nhận tất cả tội lỗi và mong Cách mạng khoan hồng độ lượng cứu xét cho tôi sớm được về với gia đình.’ Anh viết xong tôi sẽ trình lên chủ tịch nước, ghi là anh học tập tốt, chấp hành tốt mọi nội quy, chắc chắn anh sẽ được thả ra vào dịp lễ Quốc khánh này.” Lý Tống liền bảo hắn: “Xin lỗi, sở dĩ các ông không đánh đập tôi vì mấy ông biết: đụng đến tôi các ông không chột cũng què. Nhưng các ông vẫn đánh đập, hành hạ biết bao nhiêu tù nhân khác. Còn nhận tội và xin khoan hồng hả? Tôi trở về đây cứu dân, cứu nước, công trạng đầy mình, tại sao lại nhận tội, xin khoan hồng? Chính các ông những tội đồ của dân tộc mới cần phải nhận tội và xin nhân dân khoan hồng, tha thứ!” Nghe vậy Đại tá Lấn bảo Cán bộ Nam: “Thôi đem cất giấy tờ đi. Không viết thì thôi. Có gì mà lớn tiếng vậy!”
– Đầu óc Lý Tống quả siêu việt thiệt! Việt cộng mở miệng ra đều bị Lý Tống kê tủ đứng hết.
– Ồ! Tao quên nói cho mày biết: Lý Tống coi việc “đấu khẩu là một hình thức đấu tranh trong nhà tù Cộng sản”. Vì vậy sau khi xem đoạn phim ra tòa, tao nói là tao rất phục Lý Tống: chẳng những ăn nói lưu loát mà câu nào cũng đanh thép, như đang dạy dỗ quan tòa. Lý Tống lắc đầu không nhận lời khen, còn hỏi ngược lại tao: “anh có biết tại sao Nguyễn Thái Học đã nói câu: ‘Không thành công cũng thành nhân’ không?” Tao chưa biết trả lời sao thì Lý Tống đã nói: “Vì ông ấy đã suy nghĩ trước điều gì cần nói nếu cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Tôi cũng y chang như vậy thôi. Mọi đều nói trước tòa, tôi đã suy nghĩ thật kỹ và luôn tâm niệm: dù có chết cũng phải chết vinh quang, chớ tôi không bao giờ để tụi nó làm nhục tôi dù chỉ bằng lời nói.”
Uống miếng nước thấm giọng xong, Hưởng kể tiếp:
– Mấy hôm sau, Lý Tống được đưa về trại tạm giam ở Hà Nội. Đây là nơi nhốt loại đảng viên chóp bu, nên phòng nào cũng đều gắn máy lạnh, hằng ngày cho ăn 3 bữa, 4 món. Do không chịu nổi lạnh, Lý Tống bị cảm lạnh vì cảnh sống xa hoa, đài các này! Sau khi hoàn tất mọi thủ tục giấy tờ với Lãnh sự Mỹ, Lý Tống lại được tiền hô hậu ủng, gồm 2 xe chạy trước mở đường, 2 xe chạy sau hộ tống, đưa ra phi trường Nội Bài. Viên Trung tá đi theo, mời Lý Tống vào trong “Bar” dành riêng cho khách “VIP” ngồi chờ chuyến bay. Lúc cụng ly, anh ta nhỏ nhẹ lên tiếng: “Anh Lý Tống à, tôi cho anh số điện thoại riêng của tôi. Lần sau anh có về nước, xin gọi tôi một tiếng, tôi sẽ cho limousine ra tận phi trường đón anh. Anh muốn đi chơi bất cứ đâu, ‘mắt xanh mỏ đỏ’ nào tôi sẽ cử người đưa anh đi. Đừng buồn buồn trên trời nhảy xuống, chắc tụi tôi chết mất! Anh có biết cả ông Bộ trưởng quốc phòng suýt chút nữa bị bay chức vì anh không?
Huân nói:
– Tên Trung tá này khôn, đối với Lý Tống mà lên mặt hay làm găng chỉ có nước bị nhục thôi. Sau khi về tới Mỹ, Lý Tống có bị trở ngại gì không?
Hưởng cười đáp:
– Mệt dữ lắm chứ. Hàng ngàn người ra tận phi trường San Francisco đón rước tung hô. Sau khi nói lời cám ơn đồng bào đã hết lòng tranh đấu, yểm trợ ông suốt trong thời gian ở tù, Lý Tống liền tuyên bố: “Chúng ta đã bóp cổ Cộng sản đủ mạnh để chúng phải nhả 3 người chúng tôi hôm nay. Chúng ta cần phải bóp cổ Cộng sản mạnh hơn nữa để chúng phải nhả hết những tù lương tâm còn lại. Và chúng ta cần phải tiếp tục bóp cổ đến khi nào bạo quyền Cộng sản hoàn toàn tắt thở.”
– Còn 2 người nữa là ai?
– Là ông Đoàn Viết Hoạt với Trần Mạnh Quỳnh. Nhưng lần đó tụi nó thả nhiều tù nhân lương tâm lắm, vì muốn sớm được bình thường hóa với Mỹ. Ngày Lý Tống trở về làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh ở hải ngoại. Tuy vậy mà vẫn có kẻ chống đối.
Huân ngạc nhiên cất cao giọng hỏi:
– Chống đối cái gì?
– Họ suy đoán ra đủ thứ hằm bà lằng nào là: Lý Tống khai trước tòa rằng Cộng sản giờ đã đổi mới, dân chúng đã có tự do, Việt cộng cư sử tốt, không đánh đập, lăng nhục ai hết!
Huân lắc đầu, nói như than thở:
– Biết bao nhiêu lời hay, ý đẹp Lý Tống nói trong phiên tòa lại không nhớ, nhớ chi cái đoạn do báo chí VC phịa ra để đỡ đòn!
– Có người còn gán cho Lý Tống là cò mồi, vì bị tuyên án 20 năm mà mặt mày vẫn bình tĩnh, tỉnh bơ, thoải mái không hề run sợ.
– Mày có nghĩ họ là những tên cò mồi hay Cộng sản nằm vùng không?
Hưởng nhún vai đáp:
– Nghĩ làm gì mấy chuyện tào lao đó cho nặng cái đầu.
Lý Tống xứng với danh hiệu “độc nhất vô nhị” vì tất cả những gì Lý Tống đã và sẽ làm, không ai làm được hay không ai không dám làm. Lý Tống đúng là con người duy nhất với 20 duy nhất sau:
1. Tù nhân CS duy nhất để tóc dài và mặc veston khi đi thăm nuôi. Sau khi các tù thợ hớt tóc thất bại, Đại tá Nguyễn Tiến Lấn, Giám đốc trại Ba Sao, Nam Hà đã thân chinh đến phòng Lý Tống với dao kéo, tông đơ và bảo: “Tôi biết tụi nhỏ hớt tóc không đẹp nên anh chê tụi nó. Tôi bảo đảm với anh, tôi hớt tóc số một, anh để tôi cắt thử cho anh xem.” Lý Tống chỉ tay vào cổ mình thét lớn: “Ông có thể cắt đầu tôi nhưng không thể cắt tóc tôi!” Đại tá Lấn vừa thối lui vừa xua tay bảo: “Không hớt thì thôi. Đừng có nóng!” (Lý Tống không hớt tóc vì “nhượng bộ” một chút VC sẽ lấn tới làm tới.) Riêng mặt Veste thì Lý Tống bảo: “Các ông mặc đại cán, trung cán. Nếu tôi không ăn mặc đẹp hơn các ông thì ít nhất cũng phải bằng các ông. Đâu thể nào mặc đồ tù như những tên ăn mày đi cạnh các ông được!?”
2. Lý Tống là tù nhân duy nhất không quỳ với câu tuyên bố nổi tiếng: “Bắn đi! Lý Tống nầy chết đi còn có trăm ngàn Lý Tống khác.” Khi bị nhốt conex vì tội vượt ngục, mỗi lần cửa mở, tất cả đám lính VC ở các gian nhà kế cận đều tụ tập lại xem mặt và có tên nhận xét: “Tay giặc lái nầy đối với tụi Ngụy cũng cỡ anh Nguyễn Văn Trỗi của mình vậy!” Khi đến Trại 52, Lý Tống bị cùm nằm sấp và trói tay vì gọi các vệ binh là bọn hắc ám. Tối đầu tiên, 6 tên kéo vào đứng vây quanh Lý Tống. Một tên rà lưỡi lê cắm trên đầu súng vào cổ Lý Tống và rên rỉ: “Giờ nầy mà đâm mày một lưỡi lê chắc đã lắm!” Tên khác hỏi móc: “Mầy bảo quỳ là nhục nhã nên mầy không quỳ. Vậy giờ nầy bị trói như con heo mầy có thấy nhục nhã không?” Lý Tống trả lời: “Bọn mầy 6 thằng, dao, súng, lựu đạn trang bị tận răng lai đi ăn hiếp một người vì vừa bị cùm vừa bị trói. Vậy mầy không biết ai là kẻ đáng nhục nhã, xấu hổ sao?” Nghe vậy cả bọn đồng loạt đá vào đầu, mình Lý Tống. Lý Tống quát lớn: “Đồ hèn!” Thế là cả bọn lật đật bỏ chạy. Tiếng thét nầy được các bạn tù ở phòng gần khu kỷ luật tưởng là: “Tiếng thét cuối cùng khi Lý Tống bị đâm một dao lút cán!” Hai tuần sau, tay Trưởng Trại cho mời Lý Tống vào phòng gặp. Y bảo: “Việc anh không quỳ khi bị bắt quỳ trước mặt các chiến hữu mình là đều đúng, đáng khen. Nếu tôi bị cai tù Ngụy bắt quỳ tôi cũng theo gương anh không quỳ. Nhưng tại đây, ngoài anh và tôi không còn ai khác. Anh biết, Bác Hồ là vị cha già dân tộc, được cả thế giới kính trọng, ngưỡng mộ. Nếu anh quỳ trước hình Bác Hồ, tôi sẽ tha tội, thả anh ngay!” Lý Tống trả lời: “Ông bảo ở đây không có ai, nhưng cón có ông, có tôi, có Trời, có đất, có lương tâm và danh dự của một Chiến sĩ VNCH. Tôi thà trở vào nhà cùm hơn là làm việc hèn hạ, xấu hổ đó!” Nói xong Lý Tống tự động bỏ về nhà kỷ luật. Vậy mà tay Trưởng Trại cho thả Lý Tống vì phục kẻ địch hiên ngang, bất khuất. Bởi vậy, mỗi khi chuyển đến trại mới, bọn cai tù đều xếp hàng chờ xem mặt “Tên Giặc Lái, Tên Không Tặc” nổi danh.
3. Lý Tống là người duy nhất được dùng để định giá Tà-Chánh, Chân-Ngụy, Thật-Giả. Là tù binh và phi công nổi tiếng đến nỗi có người bảo: “Tù nào cùng Trại mà không biết Lý Tống là tù giả. Không quân nào mà không biết Lý Tống là Không quân giả!”
4. Lý Tống là người duy nhất dám quát nạt cán bộ tù. Đại úy an ninh Nam Trại Ba Sao thường bảo khi Lý Tống hét tướng vì nổi giận: “Ai có nàm gì đâu mà nại nên cơn nữa rồi” và Đại úy Chanh trưởng Trại: “Bình tĩnh! Bình tĩnh! (Chữ tĩnh kéo dài theo giọng Bắc dấu ngã). Cái gì từ từ giải quyết!” trước khi bỏ chạy, đến nỗi trong một cuộc phỏng vấn với một đài hải ngoại, Thầy Tuệ Sĩ từng nói: “Mỗi lần Lý Tống tức giận quát lớn, bọn cai tù Vẹm hết hồn líu quíu chạy như vịt!”
5. Lý Tống là không quân duy nhất bị sa thải kỷ luật khỏi Khóa 65A và được nhận trở lại Khóa 33/69, vượt qua nhiều trở ngại nhờ những thủ thuật hù dọa và những quỷ kế ngoại giao. Đây cũng là một kỳ tích bởi trong quân sử Không Quân, chưa từng có trường hợp tương tự.
6. Papillon Việt Nam duy nhất đã vượt ngục 6 lần
7. Người duy nhất 3 lần đột nhập phi trường đánh cắp máy bay (2 lần tại phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần tại phi trường Ubon, Thái Lan.
8. Người duy nhất bơi qua biển Johore từ Mã Lai sang Singapore trong chuyến vượt biên đường bộ.
9. Người duy nhất thờ Thượng Đế và là giáo chủ đạo GOD.
10. Người duy nhất dùng chữ ký “Lạy Thượng Đế” thay vì ký tên mình Lý Tống.
11. Người duy nhất được Thần Hộ Mệnh bảo vệ bằng 3 phi cơ: F.16, Black Hawk và AWAC chống lại 2 Migs Cuba trong Phi Vụ Havana, bảo vệ bằng dù không mở nên thoát khỏi bị 2 Migs VC hay phòng không dưới đất bắn hạ trong Phi Vụ Saigon 1 và rơi vào ao rau muống nên an toàn sống sót. Người duy nhất, bất cứ ai đụng đến, đều bị Thần Hộ Mệnh trừng phạt, từ Thủ tướng Chuan Leekpai thất bại trong cuộc bầu cử năm 2001 do bỏ tù Lý Tống thay vì chào đón với Hero Welcome như người Cuba tại Miami, Thủ tướng Thatsin Shinawatra bị đảo chánh sau 15 năm nước Thái bình yên do ăn tiền VC, chấp nhận yêu sách dẫn độ Lý Tống về VN của VC và Tổng thống Bush cùng Đảng Cộng Hòa đã thất cử năm 2008 do đã không quan tâm cứu giúp Lý Tống ra khỏi tù Thái Lan.
12. Người duy nhất tuyệt thực 7 lần, trong đó có lần tuyệt thực 3 tháng, tuyệt ẩm 15 ngày tại Thái Lan và tuyệt thực 1 tháng trong đó 3 tuần cuối chỉ được uống nước 2 lần tại Ba Sao. Người đã dùng tuyệt thực để đạt được 4 yêu sách: (1) Tù chính trị và tôn giáo không nhốt chung với tù hình sự; (2) Tù chính trị và tôn giáo không lao động; (3) Nhốt riêng nhưng được sinh hoạt bình thường từ 6 am đến 6 pm và (4) Được đọc sách báo tự do, thay vì chỉ đọc báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân.
13. Lý Tống là phi công duy nhất sống sót khi bị SA7 bắn hạ.
14. Lý Tống là người vượt biên duy nhất đi đến Singapore bằng đường bộ.
15. Lý Tống là không tặc duy nhất bị 2 bản án cướp phi cơ nhưng vẫn tà tà ngoài đời.
16. Lý Tống là người nhảy dù duy nhất qua cửa sổ cocpit phi cơ Airbus 310-200.
17. Lý Tống là người tù duy nhất kết luận bài kiểm tra học tập với câu: “Tôi trở về đây không phải để chấp hành các nội quy và luật lệ rừng rú, mọi rợ của các ông, mà để thay đổi và cải cách luật lệ, nội quy. Chỉ khi nào chế độ nầy được cải tạo tốt hay sụp đổ, lúc ấy tôi mới tự phóng thích mình (thay vì câu thông lệ Tù viết: Tôi nguyện học tập tốt, lao động tốt, chấp hành nội quy tốt để được cách mạng cứu xét, được sớm khoan hồng, tha cho trở về sum họp với gia đình làm người công dân lương thiện).
18. Lý Tống là celebrity duy nhất được báo chí thế giới đặt cho 21 titles từ: James Bond, Mr. Impossible, Resistance Icon, The Last Action Hero, Papillon, Daredevil, Leaflet Cowboy… đến International Father (độc thân, chưa từng lấy vợ, nhưng có 4 con gái với mẹ 4 quốc tịch: Pháp, Tàu, Phi và Tây lai).
19. Lý Tống là người hùng còn sống duy nhất được các Thi, Văn, Nhạc Sĩ viết tặng 361 bài thơ, 16 bản nhạc, 3 bản cải lương và hàng trăm bài báo, 135 video youtube.
20. Lý Tống là chiến sĩ duy nhất thực hiện 15 phi vụ khi ra hải ngoại từ (1) “Trừ Gian Diệt Bạo”: Chủ Nhật ngày 8.7.1984 Lý Tống bắn chết một “bố trẻ” Mỹ đen cầm đầu băng đảng trộm cướp và buôn lậu ma túy khét tiếng và đánh “tắt thở” một bố già Mỹ vàng tại New Orleans; (2) “Văn Ôn, Võ Luyện, Phi Bằng”: Học đậu bằng Cử nhân (17.12.1988), Thạc sĩ (11.8.1990) và hoàn thành chương trình Tiến sĩ Khoa Chính Trị (1992) nhưng việc bảo vệ Luận án Tiến sĩ bị trở ngại vì bị ở tù nhiều đợt. Có bằng Đệ Nhất đẳng Karate (15.3.1992), bằng Skydiving (1992), bằng lái phi cơ tại Mỹ (23.12.1999) nhưng bị tịch thu sau phi vụ Havana; (3) Phi Vụ Saigon 1: Không tặc phi cơ Airbus Việt Nam rải truyền đơn tại Sài Gòn ngày 4/9/1992; (4) Phi Vụ Havana: Rải truyền đơn tại thủ ngày 1.1.2000, nhân ngày quốc khánh Cuba thứ 41, kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ con “khủng long già” Fidel Castro; (5) Phi Vụ Saigon 2: Mướn phi cơ từ Thái Lan trở về, rải truyền đơn tại Sài Gòn ngày 17.11. 2000; (6) Phi Vụ Little Saigon: Tuyệt thực 28 ngày kiêm 8 ngày tuyệt ẩm (12.5-14.3.2008) để đòi đặt tên Khu Little Saigon tại San Jose; (7) Phi Vụ Olympics 2008, dự định rải truyền đơn tại Bắc Kinh và Bình Nhưỡng nhưng bị HLV phi công Nam Hàn khống chế; (8) Phi Vụ VAALA 17.1. 2009: Xịt hình Hồ tặc và cờ máu trong cuộc triển lãm VAALA; (9) Phi Vụ USC 18.1. 2009: Hạ cờ VC và thượng cờ VNCH tại trường Đại Học Nam Cali; (10) Phi vụ Meet Vietnam 15.11.2009: Dự định mang vòng hoa trước có hàng chữ “Welcome Meet Vietnam,” nhưng khi choàng vào cổ tên Thủ tướng VC Nguyễn Thiện Nhơn thì trở thành câu: “Down With Communists” ở mặt sau; (11) Phi Vụ Pepper Spray 18.7.2010: Xịt tên ca nô Đàm Vĩnh Hưng tại San Jose; (12) Đồng tiến hành vụ Hạ cờ VC thượng cờ VNCH tại trường Trung học Horace Mann Cougars ngày 24.5.2016, San Diego; (13) Ngăn chận thành công vụ UCV HĐTP/Q9 Sarah Saez dùng cờ VC trên Flyer vận động tranh cử (28.5.2016); (14) USC lần 2: Xé cờ VC thành miếng giẻ rách tại trường Đại học Nam Cali ngày 12.6.2016 và (15) Biên soạn Bách Khoa Từ Điển Việt-Anh (2009-), cuốn Bách Khoa đầu tiên của Việt Nam và cuốn Từ Điển đầu tiên được xếp theo vần giúp tạo nên trường phái thi ca mới “Thi Nhân Bách Khoa Từ Điển,” dùng từ điển để sửa tất cả các bài thơ lạc vận và giúp làm thơ đúng vần mà giữ được nội dung, bố cục bài thơ, thay vì “Thơ là do tìm vần mà ra” như một thi sĩ Pháp đã viết.
Đồng hồ trên tường vừa điểm 10 tiếng. Chuyện người Hùng Lý Tống vẫn còn nhiều, nhưng đành phải ngưng lại. Lúc chia tay nhau, Huân bùi ngùi hỏi:
– Chừng nào gia đình mày trở sang Mỹ?
– Tao xin phép nghỉ được đúng một tháng, tao sẽ tìm mày trước ngày lên máy bay quay lại Mỹ.

Advertisements

Author: Lý Tống

Lý Tống sinh ngày 01/09/1945 tại Huế, gia nhập Binh chủng Không Quân năm 1965, thuộc Khoá 65A, và du học Hoa Kỳ năm 1966. Vì trừng trị một niên trưởng hắc ám, Lý Tống bị kỷ luật, bị sa thải và trở về nước. Lý Tống được tuyển vào hãng Pacific Architech & Engineer và chỉ trong vòng 3 tháng thực tập ngành Thảo Chương Viên, Lý Tống tự động sửa một program chính của hãng, giảm thiểu nhân số phòng Phân Tích từ 5 nhân viên xuống còn một mình Lý Tống. Do công trạng thần kỳ đó, Lý Tống được Chủ Tịch Hội IBM Chapter Việt Nam đề nghị bầu vào chức Phó Chủ Tịch và cấp học bổng du học ngành Programmer. Nha Động Viên đã gọi Lý Tống nhập ngũ Khoá 4/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trước khi Lý Tống hoàn thành thủ tục nên anh bỏ mất cơ hội du học Hoa Kỳ lần thứ nhì. Lý Tống là người duy nhất bị sa thải vì kỷ luật được trở lại Không Quân Khoá 33/69 và tốt nghiệp Hoa Tiêu ngành Quan Sát. Năm 1973, Lý Tống được huấn luyện lái phi cơ A.37, trở thành Phi Công Phản Lực Cường Kích. Vốn là người của xứ cố đô ngàn năm văn vật, Lý Tống là một tổng hợp của nhiều con người : Vừa giang hồ lãng tử, vừa nghệ sĩ, businessman, vừa là hoa tiêu gan lì gai góc. Đề cập đến các chiến tích lẫy lừng với danh hiệu Top Gun của Lý Tống, có câu nhận xét của Phi công cùng Phi Đoàn Ó Đen thường được nhắc nhở đến : “Nếu 4 Vùng Chiến thuật có 4 Lý Tống, VC sẽ không ngóc đầu lên nỗi !“. Về Danh Hiệu PAPILLON, Lý Tống đã sáu (6) lần vượt ngục, chỉ thua Papillon Pháp, người vượt ngục chín (9) lần. Sự khác biệt giữa Henri Charrièrre và Lý Tống gồm các điểm : * Henri chuyên vượt ngục bằng đường biển, Lý Tống “chuyên trị“ đường bộ.* Henri luôn luôn dùng tiền nhờ người khác giúp đỡ và hợp tác, Lý Tống chỉ trốn một mình và mọi kế hoạch từ A đến Z đều chính tự mình vạch ra và thực hiện. * Ngoài ra, Henri chỉ chú tâm vượt rào “ra“ vì sự sống còn của bản thân, Lý Tống còn 3 lần vượt rào “vào“ các Phi trường (2 lần Phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần Phi trường Ubon Rachathani tại Thái Lan, tức Tổng cộng 9 lần bằng Henri Charrière) để đánh cắp máy bay, thi hành các Điệp vụ vì sự sống còn của Dân tộc VN. Thành tích vượt ngục được Ông Julian, Trưởng Phòng Phản gián Singapore, đánh giá : “Lý Tống là bậc thầy của Papillon“. Tháng 09/1981 Lý Tống rời quê hương tìm tự do bằng đường bộ, xuyên qua 5 quốc gia, dài hơn 3 ngàn cây số, trong thời gian gần 2 năm, trốn thoát 3 nhà tù, cuối cùng bơi qua eo biển Johore Baru từ Mã Lai đến Singapore, và được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho đi định cư tại Mỹ vào ngày 01/09/1983. Cuộc hành trình vượt biên tìm tự do của Lý Tống ly kỳ vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị của thế kỷ 20 được Tổng Thống Ronald Reagan vinh danh qua nhận định : “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom“ (Sự can trường bất khuất của Lý Tống là một biểu tượng và nguồn cảm hứng cho những ai muốn biết cái giá của tự do) ; và được ca tụng bởi những Tờ báo, Tạp chí nổi tiếng nhất thế giới như : Barry Wain của The Wall Street Journal : “Ly Tong is in a class by himself“ và Anthony Paul của Reader’s Digest : “His flight has become one of the great escape saga of our time“....... (Xin đọc thêm các bài tiểu sử của Lý Tống)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s