THƯ VĂN LÝ TỐNG (2)

  1. Hình Khóa 65A Không Quân. (LT hàng nhì, thứ 3 từ phải, dấu X) (Riêng Hình LT gắn Alpha cho Vũ Ngô Khánh Truật lạc mất, bạn KQ nào còn giữ nhờ gửi LT một copy.)

image005.jpg

  1. Hình Khóa 33/69 Không Quân. (LT đứng đầu, bên phải, dấu X.)

image006.jpg

 

  1. Hình chụp tại Phi Đoàn Ó Đen 548 nhân Lễ Cưới của Th/úy Phạm Hữu Nghĩa.

image007.jpg

 

 

  1. Hình Ảnh Tại Mỹ: (Lý Tống được đánh dấu X.)
  2. Hình chụp tại nhà Tr/Tá PĐ Trưởng Trần Mạnh Khôi ngày tới Mỹ.

image008.jpg

 

  1. Hình Chụp với Cựu Tr/Tướng Tư Lệnh KQ Trần Văn Minh. (Hai dấu X: LT (giữa trái ) và Tr/Tướng Minh (giữa phải)

image009.jpg

 

 

 

  1. Hình Chụp với hai Cựu Tư Lệnh KQ: Nguyễn Xuân Vinh (phải), Nguyễn Cao Kỳ (trái, trước vụ về Việt Nam) cùng Bà Kỳ 1: Đặng Tuyết Mai và Bà Kỳ 2: Nicole Kim (ngồi cạnh nhau) và LT dấu X.

image010.jpg

 

 

  1. Hình Chụp cùng Hội KQ New Orleans (Lý Tống mặc áo bay màu cam đứng giữa).

image011.jpg

 

 

TRẢ LỜI THẮC MẮC CỦA ĐQC:

Nhân ĐQC “thắc mắc” về một số chi tiết trong bài “Trung Tướng Không Quân Lý Tống” tôi viết thêm bài nầy để quý Thân hữu chưa rõ chuyện có thể biết thêm tại sao trên đời vẫn có “những chuyện khó tin nhưng có thật” và cái mà tôi thường gọi là “Thần Hộ Mệnh” hay “Bùa Hộ Mệnh” đã giúp tôi vượt qua những gian nan trắc trở ảnh hưởng đến vận mệnh đời mình.

  1. Khai sinh Lý Tống: Trong giấy Khai sinh, tôi sinh ngày 1/9/1946, trong lúc tuổi thật 1945, bớt 1 tuổi để đi học. Lý do: Từ 4 tuổi, tôi được học tiếng Pháp nhưng khi chuyển sang Trường Việt do tài chính gia đình suy sụp, tôi phải xuống tuổi, xuống lớp để bắt kịp bạn cùng lớp. Qua Mỹ bớt thêm 2 tuổi để đi học vì lớn tuổi khó xin việc nên ID Card ghi 1/9/1948. Hồi đó tôi chọn môn Chính Trị là có ý đồ làm việc cho CIA hay Bộ Ngoại giao. Nhưng khi CIA đến trường tuyển nhân viên sau khi tôi có bằng Thạc sĩ, tôi đưa điều kiện chỉ làm việc tại Đông Nam Á để có môi trường hoạt động lật đổ CS thì họ từ chối vì trái với quy định luật pháp Mỹ. Do đó tôi vừa không thể tìm job phù hợp với ý thích vừa bị “lỗ” 3 năm hưởng tiền già!
  2. Hụt Khóa 64A KQ: Năm 1963 đậu Tú Tài Bán lúc 17 tuổi và ghi tên khám Khóa Phi hành 64A Không Quân tháng 1/1964. Tuy thiếu 4 tháng tuổi (1/1964-9/1946) nhưng được Trung Tá Trực, Trưởng Phòng Nhân Viên Bộ Tư Lệnh, “nâng đỡ” nhận đơn nhờ bức thư gởi gấm của một cô bạn gái ở Nha Trang, có mẹ là bạn với mẹ Lý Tống và LT ghé nhà thăm trên đường vào Sài Gòn gia nhập KQ.

LT pass khám sức khỏe nhưng do anh Trương Minh Diệu (Thượng Sĩ Không Quân) có vợ sinh nên bận bịu, quên xem dùm kết quả để thông báo cho Lý Tống như đã hứa khi LT lên đường trở về Huế chờ tin trong khi LT lại quên lấy địa chỉ KBC của anh Diệu.

  1. Đậu Khóa 65A KQ: Lý Tống trở lại Sài Gòn tháng 6/1964 thì được tin mình pass nhưng toàn khóa 64A KQ đã lên đường đi Quân trường Huấn luyện KQ Nha Trang từ lâu. Thời gian khám sức khỏe lại quá 6 tháng, nên LT phải tái khám và đậu vào Khóa 65A KQ.
  2. Phạm Kỷ Luật: Sau 1 năm Huấn Nhục tại Quân trường Nha Trang, LT có tên trong Nhóm được huấn luyện bay Khu trục cùng Trần Thế Vinh tại Căn cứ Hải quân Mỹ Pensacola, Florida. Nhưng trong thời gian học Anh ngữ tại Lackland Air Force Base, LT “hành hung Cán bộ có thương tích” nên bị trả về VN vào tháng 7/1966.
  3. Sa Thải: Sau một thời gian nằm Phòng Thặng số, LT bị Tư Lệnh KQ Nguyễn Cao Kỳ ký giấy sa thải khỏi Không Quân mặc dù Đại Tá Vũ Văn Ước đã đề nghị Tướng Kỳ tha lỗi và cho trở lại Mỹ du học.
  4. Hãng RMK: LT thi đậu Thông Dịch viên của Hãng RMK và được biệt phái làm việc tại Qui Nhơn. Sau vụ lấy xe sếp đi chơi, lái ẩu qua đoạn đường cấm có 2 trụ chận đường quá hẹp làm cánh cửa trái của xe mới ra lò bị hư nặng, LT còn chạy xe vào Phi trường lấy hàng quá nhanh không thắng kịp khi bị Quân cảnh Mỹ chận lại nên bị RMK sa thải sau 4 tháng làm việc năm 1967.
  5. Hãng Pacific Architects and Engineers, Inc: Một chiều năm 1967 trên đường Trương Minh Giảng, LT bất ngờ gặp Phó Giám đốc Hãng PAE đứng trú mưa khi ông đi bộ ra ngõ mua thuốc hút. Sau một hồi tán gẫu, ông cho biết đa số nhân viên người Việt của Hãng rất kém Anh ngữ và hỏi LT học ở đâu mà thông thạo vậy? LT đưa xem thẻ căn cước du học tại Mỹ, nhưng dấu vụ “sa thải kỷ luật” bảo sức khỏe kém vì bị “quáng gà” nên phải bỏ nghề bay. Ông bèn viết vắn tắt vài dòng trên Carte de visite lệnh Phòng Nhân Viên ở đường Bùi Thị Xuân thu nhận LT và phát trước 1 tháng lương vì nhân viên Hãng phải mặc Veston trong khi LT đang “hơi bị đọi.”
  6. Programmer: Thấy LT có năng khiếu đặc biệt, ông giao cho LT một chồng sách Programmer để học thêm khi làm việc tại Bộ phận Phân tích Dữ liệu gồm 5 người: 2 Mỹ, 2 Việt, 1 Tàu. Sau 3 tháng, LT viết 1 program sửa program chính của Hãng, và thay vì mỗi ngày Phòng Computer in ra cả chục thùng giấy để 5 người dò đọc và sửa để giao cho Phòng Key Punch, giờ chỉ in vài tờ, chỉ rõ sai ở đâu, sửa thế nào và chỉ cần 1 mình LT phụ trách.
  7. Vice Director: Phó Giám Đốc về hưu, ông Phó mới, nhân Đại Hội Thảo Chương viên (programmer) toàn VN năm 1968 có khoảng 500 người tham dự đủ quốc tịch, nhưng không có VN ngoài LT, họp tại Khách sạn Continental để bầu lại Ban Lãnh Đạo của Chapter Saigon, ông đề cử LT làm Vice Director trong số 5 chức vụ và được Đại Hội thông qua. Đại úy Nhảy dù Trần Hiết là người chứng kiến cảnh “kinh dị” này: Một thanh niên Việt 22 tuổi mặt búng ra sữa ngồi chễm chệ trên bàn Chủ tọa cùng 3 ông Sếp râu xồm Mỹ và một bà sếp Mỹ. (Trần Hiết cùng Khóa 65A KQ, bị loại ra Nhảy Dù, đã từng “cứu” LT 3 lần. Lần trầm trọng nhất là tôi bị băng anh chị làm cùng Hãng PAE đe dọa “Bề hội đồng” vì 1 tên trong nhóm có bồ Đại Hàn và cô này lại chú ý đến tôi. Y chận đường gây sự và bị tôi đập một trận. Tôi ghé Sư đoàn Dù tìm Hiết và báo: “12 giờ trưa chúng hẹn tôi trước Cổng Ngã Ba Chú Ía để thanh toán.” Hiết dẫn 1 Tiểu đội Nhảy Dù trang bị “tận răng” như đi hành quân và đậu GMC ngay trước cổng chờ. Tôi đi ra cùng chúng và ra hiệu. Hiết móc súng rượt uýnh cả đám, chưa kể Quân Cảnh gác cổng hôm đó lại là “đệ tử” cũ của tôi. Vừa bị Nhảy Dù đục, vừa bị Quân Cảnh KQ răn đe sẽ không cho vào cổng đi làm nếu còn lộn xộn với Big Boss, thế là từ đó thấy tôi từ xa chùng chẩu đi ngả khác tránh mặt. ĐT Trần Hiết: 805-490.6609).

Tạp chí Thảo Chương viên xuất bản tại Mỹ gửi về VN cho Hãng sau Đại Hội có đăng hình toàn bộ Chủ Tịch đoàn trên toàn thế giới trong đó có hình Lý Tống của Chapter Saigon. Các cô nhân viên Việt đọc được bèn “chôm” 1 tờ, thêm râu vào hình LT rồi đem tặng tôi làm kỷ niệm.

  1. Khóa 4/68 Thủ Đức: Hãng PAE dự trù cử LT đi du học Mỹ để trở thành Thảo Chương viên người Việt đầu tiên, nhưng chưa kịp lên đường thì Đại Tá Bùi Đình Đạm, Nha Động viên, cấp thời gọi Lý Tống trình diện Khóa 4/68 Thủ Đức.
  2. Con Đường Sạn Đạo Gian Nan:

(1) Quang Trung: Khóa 4/68 học Giai đoạn I tại Quang Trung. Ai đậu đi Thủ Đức, rớt đi Đồng Đế. Tại Quang Trung tôi suýt lâm nạn 2 lần:

  1. Pháo Kích: Trong 1 lần VC pháo kích, một quả đạn rơi sát phòng tôi. Tôi ngủ giường trên bị văng xuống u đầu nhưng vô sự. Lâu quá không nhớ vụ đó có ai bị thương không?
  2. Đồng Đế: Tại Quang Trung có nhiều quán nhậu, nhưng quán của sếp an ninh đông khách nhất ngoài vì đồ ăn ngon còn có cô gái rượu rất xinh đẹp thỉnh thoảng ngồi tính tiền phụ bố. Sau một thời gian “trồng cây si” và thấy cô bé có vẻ “chịu đèn”, một tối chờ sắp đóng cửa tôi đến trả tiền và bỏ nhỏ: “Anh muốn gặp em sau hè vài phút được không?” Cô gật đầu. Hôm đó có chút hơi men tôi bạo hơn nên vừa thấy cô bé ra đến là tranh thủ ôm hôn vì thời gian eo hẹp. Do là lần đầu nên “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e” cô bé làm duyên vừa né tránh vừa nhè nhẹ đẩy tôi ra. Xui xẻo là đúng ngay lúc đó sếp an ninh vừa vô tình ra đến. Ông nghĩ tôi là tên say rượu tấn công con gái mình làm ẩu nên bắt tôi về nhốt và viết báo cáo loại tôi đi Đồng Đế. Tôi giải thích con gái ông thích tôi và hẹn tôi càng làm ông nổi đóa hơn. Thấy khó thuyết phục, tôi bèn dùng “Bùa Hộ mạng” lớn tiếng: “Ông đừng giỡn mặt tôi! Hãy mở hồ sơ ra xem để biết tôi là ai mà dám vu oan giá họa hại tôi?!” Sau khi xem “Hành hung Cán bộ có thương tích” ông đổi thái độ, “hù” vớt vát: “Lần này tạm tha cho anh. Lần nữa là ra Đồng Đế ngay!

(2) Ghi Danh: Khi sắp mãn khóa, Đại diện Không Quân đến tuyển quân. LT ghi tên nhưng bị Tr/úy Hải, sếp Trung Đội 2 không cho với lý do LT từng bị “Sa thải khỏi Không Quân.” Trước kia ông rất “ái mộ” người từng du học Mỹ nên đề nghị tôi phụ trách Trung Đội trưởng Chiến đấu, Đại Đội trưởng Tuần sự, kiêm Quản ca. Những tối Trung đội 2 trực gác, ông thỉnh thoảng ghé tới nhậu chung. Trong một lần nhậu, ông bảo: “Khóa tôi có người được tuyển vào KQ Khóa 65B.” Tôi bật miệng nói theo thói quen: “Vậy là Khóa đàn em của tôi.” Nghĩ tôi cố tình “hạ nhục” ông trước các Khóa sinh, từ đó ông “đì” tôi tận mạng. Một lần có Đoàn Văn nghệ đến Trường trình diễn, thấy trong đám Ca sĩ có cô tôi mới quen nên bỏ lớp học súng cối đi theo tán dốc. Ông ký tôi 8 củ.

Thấy ông vẫn muốn chơi mình, tôi ra tối hậu thư: “Việc  tôi có được nhận trở lại Không Quân hay không là chuyện của Bộ Tư lệnh KQ. Nhiệm vụ của Tr/úy là ghi tên người tình nguyện. Ông biết rõ tôi là ai, từng có thành tích gì. Trong vòng 2 giờ, ông phải quyết định và ông sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu tự ý loại bỏ tên tôi!” Chỉ 1 giờ sau, ông báo: “Đã ghi tên cho anh.”

(3) Khám Sơ Khảo: Theo thủ tục, người có tên phải được Khám sơ khảo tại Bệnh xá Trường. Tôi lại gặp trở ngại khác: Trước đó chừng tuần, tôi được 1 cô nữ quân nhân làm việc tại Trường ái mộ và chúng tôi có một cuộc tình chớp nhoáng dưới hầm trực chiến. Không ngờ mấy ngày sau tôi bị “bể ống khói” và hàng ngày phải lên Bệnh xá chích thuốc. Y tá phụ trách Khám Sơ khảo là người vẫn chích thuốc trụ sinh cho tôi nên hỏi: “Anh tính sao đây?” Tôi xuống giọng: “Ông Thầy giúp dùm. Tôi sẽ hậu tạ bằng 1 chầu nhậu linh đình.” Tôi “pass” và cùng Nhóm về trình diện Phòng Khám phi hành tại Bộ Tư lệnh KQ của Bác sĩ Húc.

Đến mục thử nước tiểu, tôi đi lòng vòng xem nước tiểu ai trong trẻo nhất xin một ít. Không ngờ phòng khám nước tiểu cho nhân viên giả dạng phục kích trong restroom. Anh Tr/sĩ y tá bảo tôi: “Anh tiểu ngay trước mặt tôi. Nếu không, tôi sẽ không nhận ống nước tiểu này!” Tôi lại móc “Bùa hộ mạng” ra, nạt lớn: “Cầm giấy nầy đọc để biết anh mầy là ai. Nếu chú mầy không nhận ống nghiệm, từ rày về sau đừng bao giờ ra khỏi cổng Phi Long. Anh sẽ cho đàn em đón lỏng chú mày làm thịt. Còn nếu biết điều, chơi đẹp, trưa nầy anh sẽ đãi chú mầy một chầu huy hoàng hết chỗ chê.” 11 giờ trưa, anh Tr/sĩ ra gặp tôi, bỏ nhỏ: “Ông Thầy đã pass rồi!” Tôi bèn dẫn anh ta ra Quán Nhậu cạnh Bệnh Xá để thực hiện lời hứa. Vừa bước vào quán bỗng đám Quân cảnh đang ngồi nhậu đứng dậy vồ vập mời tôi: “Ông Thầy! Lâu quá mới gặp lại ông Thầy. Ngồi đây để bọn em chiêu đãi.” Đám Quân cảnh nầy thời Tân binh dưới quyền cai quản của SVSQ Lý Tống, Cán bộ kỷ luật. Đám “nhà tranh” Tân binh thường bị đám “nhà sắt” Hạ Sĩ quan Khóa sinh ăn hiếp. Giờ ăn, họ thường lạn qua phòng ăn Tân binh quơ hết đồ ăn ngon. Tôi trước đó cũng đã từng làm Cán bộ kỷ luật Khu Nhà sắt và những tay đầu gấu dữ nhất đều bị tôi nhốt chuồng cọp nên nhẵn mặt. Trật tự phòng ăn được phục hồi nhờ sự hiện diện thường xuyên của tôi.

Đúng là “Dĩ độc trị độc.” Tôi là tay ba gai nhất, bị phạt trọng cấm nhiều nhất, nhưng để trị các tay vô kỷ luật ở Khu Nhà tranh và Nhà sắt, các Sếp phải cử tôi phụ trách Cán bộ Kỷ luật mới có thể giải quyết vấn nạn sau khi một SVSQ phụ trách trước tôi bị Khóa sinh HSQ “trùm bông sô” ta pi một trận hội đồng trong giờ điểm danh phải nằm bệnh viện.

Tay Tr/sĩ Phòng thử màu, nước tiểu thấy đám Quân cảnh dữ dằn là đệ tử của tôi nên nói nhỏ trước khi rút lui: “Thôi ông Thầy cứ nhậu với mấy sếp Quân cảnh đi. Chuyện giúp ông Thầy là chuyện lặt vặt, đừng để ý.” Đúng là: “Người… gian mắc nạn có Bùa Hộ Mạng phò.”

(4) Đàn Em-Thầy: Hết kẹt nước tiểu lại đến vụ khác. Tôi vào trình diện Phòng Du học lại gặp Tr/úy Lộc, Khóa 65B, vừa “Đàn em vừa Thầy!” Bên Quân trường, SVSQ Lộc là khóa đàn em của SVSQ Lý Tống, nhưng khi qua Trường Anh Ngữ, ông lại là Thầy dạy chúng tôi. Khóa 65B gồm cấp Hạ Sĩ quan học lên Sĩ quan. Trong Quân trường, tôi có nhiều người thương nhưng vẫn có người ghét. Ông Lộc không chỉ ghét còn hay kiếm chuyện với tôi. Thấy tôi ông bảo: “Anh bị sa thải vì kỷ luật. Tại sao lại lò mò trở lại đây?” Thế là ông báo Phòng Nhân viên để loại tôi ra bộ binh.

Anh Diệu là anh cùng cha khác mẹ với Trương Minh Dũng, cùng Khóa 4 với Tr/Tướng Ngô Quang Trưởng nhưng chỉ lên cấp Tr/Tá là tịt ngòi. Anh là tác giả của bài Túy Ca và một số bài hát nổi tiếng khác. Anh Dũng lại là anh cùng mẹ khác cha với tôi. Anh Dũng là gạch nối giữa tôi và anh Diệu. Vợ anh Diệu chơi thân với Phu nhân Đại Tá Vũ Văn Ước. Con Đại Tá Ước được gửi tới nhà anh Diệu học vì cùng mướn chung précepteur! Thời gian đó tôi tạm trú nhà anh Diệu trong Cư xá. Tôi quen gia đình Đại Tá Ước qua kiểu lòng vòng như vậy, nhưng ông lại tận tụy giúp tôi. Vì thế khi Đại Tá qua đời, tôi từ Bắc xuống Nam Cali đưa đám và đọc Điếu Văn. (Bài bên dưới.)

Theo lời anh Diệu, tôi bay ra Nha Trang gặp Đại Tá Ước, Không Đoàn trưởng KĐ 62 Chiến thuật KQ. Đại Tá Ước viết một bức thư cho Tr/Tướng Tư Lệnh Trần Văn Minh và bảo tôi trao cho Thiếu tá Đỗ Văn Ri, Chánh văn phòng Tư lệnh. Chừng tuần sau, Thiếu Tá Ri bảo tôi: “Bộ Tư lệnh có cuộc họp bất thường khẩn cấp và Đại tá Ước đã được triệu về Sài Gòn. Em qua Nhà Đại tá tại Cư xá nhắc ông ấy khi vào họp, nói trực tiếp với Tr/Tướng Tư Lệnh vụ của em thì chắc ăn hơn bức thư.” Tôi làm theo lời dặn. Trung Tướng Trần Văn Minh chấp thuận, nhưng nhận lại một quân nhân bị “Sa thải vì kỷ luật” là trái với quân kỷ nên ông ra lệnh Th/tá Ri thảo một văn thư rồi phê: “Đề nghị các Trưởng phòng cứu xét giúp đỡ đương sự!” Thấy Tr/Tướng Tư Lệnh “bật đèn xanh” các Trưởng Phòng Bộ Tư lệnh đều ký THUẬN, riêng Phòng Du học, Cố vấn Mỹ không chấp thuận do Tr/úy Lộc “mách bu” với Tr/Tá Ngọc trưởng phòng để chơi tôi. Do đó tôi không được tái du học, phải học tại Nha Trang, Khóa 33/69 KQ. Đại Tá Ước lại cho tôi ở chung phòng với người em, Trung Tá Hải quân, tại Tư Dinh Không Đoàn Trưởng.

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” câu châm ngôn nầy có thể áp dụng cho tôi vào thời gian nầy. Tôi cùng Khóa với Trần Văn Tấn, em ruột Tr/Tướng Tư Lệnh KQ Trần Văn Minh và trở thành cặp bài trùng “phá làng phá xóm” tại Nha Trang. Nên khi Đại úy Ngọc KQ quân nhắc câu: “Lý Tống là thần tượng tuổi trẻ Nha Trang” (sau 1975) thì có người đùa bảo: “Lý Tống là thần sầu của các chủ động!” (năm 1969) (Quỷ khốc thần sầu). Chúng tôi không “dựa thế” nhưng do thiên hạ “dựa hơi” nên “hưởng” quá đà. Đám Quân cảnh “tránh” Tấn vì họ nghĩ có Đại Tá Lam Sơn, Quân Trấn trưởng, “đỡ đầu.” (Tr/Trướng Minh nhắn Đại Tá Lam Sơn coi chừng dùm thằng em hoang đàng để trừng trị, nhưng ông hiểu nhầm nhờ “nâng đỡ!”) Đám Cảnh sát “nể” tôi vì anh Nhuận làm Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đặc biệt! Năm Vĩnh, trùm du đảng và Tư Định, trùm thuốc phiện, trở thành đệ tử phục vụ 2 quan KQ dân chơi. Đại Tá Nguyễn Hồng Tuyền từng bắt tôi đánh Tấn 20 hèo và Tấn đánh tôi 20 hèo vì tội ăn nhậu, hút xách vô độ! Tôi được thả solo trong khi đang “phê” nên không đáp được, suýt bị đánh rớt và Đại Tá Tuyền phải nhảy vào dợt đáp rồi cho tôi pass.

Tôi tốt nghiệp Phi Công Quan sát, bay L19 và trở thành “Quỷ khốc thần sầu” của VC. Đến năm 1973, do chiến trường sôi động cần nhiều Phi công A37, tôi tình nguyện và được huấn luyện tại Phan Rang và trở thành Phi công A37 với nhiều chiến công hiển hách.

 

 

TRUNG TƯỚNG KHÔNG QUÂN LÝ TỐNG?!

  1. ĐỌC BÁO THÁI LAN

 image012.jpg

image013.jpg

 

DỊCH BÁO THÁI เดลินิวส์ 19 พฤษภาคม พ.ค. 2549

(DAILY NEWS 19/5/2006)

  1. TRANG ĐẦU:
  2. Ghi chú dưới photo Lý Tống: พล...ลืดง หรึอลืตง, đọc Phon AR-KAD Tho Ly Tong or Lý Tống (Trung Tướng Không Quân Ly Tong hay Lý Tống).
  3. Tít lớn bên dưới photo: Dẫn độ Trung Tướng Không Quân về nước tội khủng bố. Cựu Phi công tiêm kích bị gửi trả về VN vì tội rải truyền đơn (xem tiếp trang 11)
  4. TRANG 11: tại Thành phố HCM 6 năm trước thông qua hành động không tặc phi cơ. Ông ta không sợ bị nhà cầm quyền VN trừng phạt vì có nhiều người ủng hộ cuộc chiến đấu của mình. Ông có một lai lịch, tiểu sử đặc biệt. Là một người tị nạn chính trị rồi trở thành công dân Hoa Kỳ, ông đã từng bay từ Florida sang Havana Cuba rải truyền đơn chống Fidel Castro. Ông không tặc phi cơ tại Don Muang, Thái Lan, về rải truyền đơn tại Việt Nam.

Trung Tá Chỉ huy Trưởng Cảnh sát đã dẫn toán quân đến Trại Giam Trung Ương trên đường số 13, lúc 8 AM ngày 17/5/ 2006 để bắt giữ ông. Ông sinh quán tại Việt Nam, cựu Phi công của QLVNCH và trở thành công dân Mỹ với tên LYTONG hay TONG LY. Ông 59 tuổi được chuyển từ nhà tù cũ (Klong Prem) đến một nhà tù đặc biệt khác (Bangkok Remand) sau khi mãn hạn tù theo lệnh của Tòa Án do yêu cầu xin dẫn độ của chính quyền VN với các tội danh “vi phạm không phận, bay ra bay vào bất hợp pháp” trong Phi vụ không tặc, cất cánh từ Hua Hin bay về thành phố HCM rải truyền đơn chống chính quyền CSVN năm 2000. Ông khá đẹp trai, ăn mặc rất mốt và mang kính đen. Nếu bị Thái Lan trả về VN ông sẽ bị trừng trị rất nặng vì chính quyền VN xem ông là một tên khủng bố cực kỳ nguy hiểm. Nếu được trở về một quốc gia tự do, ông sẽ được đón tiếp như một Anh Hùng. Dù bị bắt và bị buộc tội có ý đồ lật đổ chế độ CSVN, ông vẫn được nhiều người Việt định cư nước ngoài ủng hộ và đoàn kết trong nghiệp đấu tranh chống Cộng. Nếu bị chính quyền CS đối xử tàn ác, không tôn trọng nhân quyền và các công ước quốc tế, ông tin tưởng Đồng Bào VN sẽ nổi dậy chống lại chế độ.

Ông Lý Tống nguyên là Phi công của miền Nam VN với cấp bậc พลโท (พล..) Phon Tho ★★★/Trung Tướng Không Quân) trong Chiến tranh VN. Trong một Phi vụ hành quân ngăn chận cuộc tiến công của CSVN, phi cơ A37 của ông bị bắn hạ, ông bị bắt và bị cầm tù 7 năm. Ông vượt ngục rồi vượt biên qua nhiều quốc gia Đông Nam Á trong suốt 3 năm. Cuối cùng ông đến tận Tòa Đại sứ Mỹ tại Singapore xin tị nạn chính trị. Sau đó ông đến Hoa Kỳ, trở thành công dân Mỹ năm 1988. Thế rồi ông lên đường trở về, không tặc phi cơ Airbus của Hãng Hàng không VN từ phi trường Don Muang của Thái Lan. Ông bắt giữ cô Chiêu Đãi viên Hàng không, đe dọa có bom và buộc Phi công bay trên không phận Sài Gòn để rải truyền đơn chống chính quyền VN và sau đó nhảy dù khỏi phi cơ. Cuối cùng ông bị CSVN bắt, bị kết án 20 năm, nhưng chỉ 6 năm sau ông được phóng thích.

Tháng 1/2000 ông mướn phi cơ tại Miami, Florida, bay tới Havana, Cuba, để rải truyền đơn chống Fidel Castro và đến cuối năm 2000 lại qua Thái Lan để không tặc máy bay. Ông bị giam giữ 5 năm 6 tháng tại nhà tù Thái vì vi phạm không phận và luật di trú. Sau khi thi hành xong án phạt, ông bị chính quyền VN yêu sách dẫn độ về VN để trị tội.

 

  1. TẠI SAO LÝ TỐNG ĐƯỢC “TRUY THĂNG” TRUNG TƯỚNG?

Trong Phiên Tòa Dẫn độ Sơ thẩm, có Thân hữu từ Mỹ qua tham dự hỏi tôi: “Sao có báo Thái đăng tin anh cấp Trung Tướng?” Tôi trả lời: “Đây là chuyện dài Nhân dân Tự vệ. Khi nào có dịp tôi sẽ giải thích cho các anh hiểu.” Bài nầy, ngoài ghi lại một kỷ niệm về Nhà tù Thái, còn có mục đích thực hiện lời hứa nói trên.

  1. NGUYÊN NHÂN: Bay trở về U-Tapao sau khi thi hành xong Phi vụ Saigon2, tôi bị thẩm vấn tại U-Tapao và sau đo tại Đồn Cảnh sát Ban Chang rồi bị tạm giam tại đây. Môt điều đặc biệt là Trung Tướng Tư Lệnh Tỉnh Rayong ghé đồn qua lại phòng tôi vài lần. Thái Lan là xứ quan liêu nên việc một Trung Tướng ghé thăm được Cảnh sát Đồn đón tiếp đủ nghi lễ trang trọng. Lần thứ 3, ông tiếp cận và nói chuyện. Ông hỏi: “Trông anh quen quen. Anh có du học Hoa Kỳ bao giờ chưa?” Tôi trả lời: “Năm 1966, tôi học tại Trường Anh ngữ Lackland Air Force Base.” Nghe tới đây, ông mừng rỡ nói lớn: “You’re my classmate!” Đám Cảnh sát Rayong nghe tôi là bạn học cùng lớp với Trung Tướng Tư lệnh 34 năm về trước (2000-1966) tại Mỹ nên suy ra tôi cùng cấp vì họ quên tính chuyện Miền Nam bị “sập tiệm” năm 1975, 25 năm trước (2000-1975) và các bạn cùng Khóa 65A KQ hầu hết mang lon Thiếu Tá ngoài một số sắp lên Trung Tá do đang giữ chức Quyền Phi Đoàn Trưởng. Tôi còn “bẹc cờ na” hơn, do bị “Sa thải kỷ luật vì hành hung Cán bộ có thương tích,” bị loại khỏi Không Quân, nhập Khóa 4/68 Thủ Đức và do Bộ Tư lệnh tưởng tôi bị Hỏa tiễn SA-7 bắn hạ và chết trong Phi vụ Cuối cùng nên truy thăng “Cố Đại Úy” sớm hơn vài tháng.

Khi tôi kể chuyện khôi hài nầy cho đám tù Thái nghe, họ năn nỉ tôi: “Hủ Na (Ông lớn) đừng cải chính. Ông cứ để bọn Cai tù tưởng Ông là Trung Tướng, chúng sẽ sợ Ông và như vậy Ông có thể giúp đỡ anh em tù Thái chúng tôi!” Nghe họ cầu khẩn chân tình, tôi đành chấp nhận đề nghị của họ.

Theo Wikipedia và vài Thân hữu Thái, Tướng lãnh Thái có 4 cấp:

http://en.wikipedia.org/wiki/Military_ranks_of_the_Thai_armed_forces 1. Cấp cao nhất là จอมพล, đọc Chom Phon, tức Field Marshal, Thống chế, Đại Nguyên soái dành cho Đức Vua, tương tự chức Thống Chế của Tưởng Giới Thạch hay Tổng Tư Lệnh của Barack Obama.

  1. Cấp thứ nhì là พลเอก viết tắt พล.., đọc Phon Ek, tức 4-star General, Đại Tướng.
  2. Cấp thứ ba là พลโท viết tắt พล.., đọc Phon Tho, tức Lieutenant General, Trung Tướng.
  3. Cấp thứ tư là พลตรี viết tắt พล.., đọc Phon Tri, tức Major General, Thiếu Tướng.

image014.jpg

 

Do Ông Tư lệnh là Tướng 3 sao nên tôi “ăn ké, đu gió” được gọi là Phon Tho hay Nay Pol. Nay Pol thường được dùng để gọi chung cho cả 3 cấp Phon Ek, Phon Tho và Phon Tri (Thiếu, Trung, Đại Tướng) để phân biệt với Chom Phon của Vua Thái. Một số thì gọi tôi bằng danh xưng Hủ Na, Phú Còn (Ông lớn) hay Big Boss!

  1. HẬU QUẢ: Từ khi được thăng nhảy cấp, có  một số ưu đãi và kỷ niệm đáng nhớ như sau:
  2. Phòng Tạm Giam Ban Chang:

(1) Hệ Thống Cửa Lưới: Ông Trung Tướng hỏi thăm tình hình ăn ở tại Đồn Ban Chang và hỏi tôi có nguyện vọng gì không? Tôi bảo: “Chuyện ăn, ở cũng tạm được. Chỉ có điều các cửa lưới quá cũ và mục nát nên ruồi, muỗi vào nhiều quá không ngủ được. Nếu Tr/Tướng cho phép, tôi sẽ chi tiền để thợ thay mới toàn bộ hệ thống lưới muỗi.” Ngay ngày hôm sau, yêu cầu của tôi được thực hiện bằng tiền quỹ của Đồn Cảnh sát.

Tôi nghĩ ông cũng kẹt không thể giúp nhiều hơn vì chính Thủ Tướng Thái Chuan Leekpai đã tuyên bố: “I have personally instructed the national police chief to carefully investigate the issue as this kind of incident occurs repeatedly it could create misunderstanding with our neighbours.

(2) Phòng Riêng: Sau đó tôi lại được chuyển sang phòng Nữ ở một mình thay vì chen chúc cùng 10 tù trong phòng Nam. Vì Đồn Ban Chang chỉ có 2 phòng tạm giam, 1 Nam 1 Nữ nên cô gái đang ở 1 mình phải ra hành lang nằm. Thấy vậy bất công tôi định từ chối nhưng chính cô này bảo: “Hủ Na cứ ở phòng đó đi. Em thích ở ngoài nầy vì tự do hơn, có thể đi lại, qua gặp tù phòng Nam, liên lạc bên ngoài…”

(3) Sinh Hoạt: Các nhu cầu khác đều được đáp ứng nhanh và dễ dàng. Cần mua, dùng bất cứ gì đều được thỏa mãn. Điều này được khả năng tài chánh hỗ trợ. Một Trung Tướng quá “bần hàn hoặc keo kiệt” chắc sẽ được “kính nhi viễn chi” thay vì kính trọng. Tôi lên đường đem theo $US10.000. Ở Cam Bốt vài tuần xài hết tiền nên nhắn Chị Hai (Phu Nhân Tướng Phan Hòa Hiệp) gửi thêm $US20.000 (trong đó có $US10.000 do Anh em Bến Cũ yểm trợ). Tôi điều đình với Phi Công Thira người Thái, tặng anh ta $US20.000 nếu đồng ý hợp tác. Tôi đưa trước $US10.000 trên phi cơ, hứa xuống phi cơ đưa thêm $US5.000 trước khi “chẩu” lên phi trường và về Mỹ sẽ gửi qua thêm $US5.000 để Thira đãi tiệc Trường bay. Nhưng chưa kịp trao $US5.000 thì đã bị bắt, do đó tôi còn gần $US15.000. Phòng tạm giam tổng cộng trên dưới 10 tù, mỗi ngày tôi đều mua thức ăn, nước uống biếu họ + 2 Cảnh Sát trực. Mọi người đều hạnh phúc, nhất là tôi.

  1. Nhà Tù Rayong:

(1) Ra Mắt Phó Giám Đốc: Giám Đốc Nhà Tù tại Thái Lan chỉ là một “figurehead” vì chỉ giữ chức vụ một vài năm rồi đổi nhiệm sở. Phó Giám Đốc nắm toàn quyền vì là người chính thức điều hành Trại giam và thâm niên hàng chục năm. Tôi vừa đến Rayong thì có lệnh trình diện Trung Tá Phó Giám Đốc. Ông đang đứng trên bục chỉ tay ra lệnh các Cai tù thì tôi đến. Tôi chào theo kiểu nhà binh và nói: “Chào Trung tá Phó Giám Đốc.” Tên tù trật tự chấp tay vái ông ta, rồi cúi gầm người nói lí nhí: “Dạ Chào Ngài” rồi quay lại bảo tôi: “Anh phải chào Ngài giống như tôi vậy!” Tôi trừng mắt quát: “Mầy biết tao là ai không thằng bố láo?” Phó Giám Đốc thấy vậy bèn bảo: “Cám ơn. Vậy đủ rồi” và ra lệnh y dẫn tôi về phòng.

(2) Khám Xét: Tù đi Tòa về thường phải thông qua một thủ tục khám xét rất nhiêu khê. Toàn bộ tù nhân cởi truồng ngồi thành hàng, áo quần để trước mặt như đám đười ươi. Tù trật tự lần, bóp từ túi áo, mép áo, lưng quần, lai quần… rồi bắt tù dang 2 tay, xoạc hai chân, xem kỹ trong nách, dưới háng. Bắt banh miệng, lè lưỡi để kiểm tra. Màn cuối là chổng mông để trật tự banh hậu môn ra xem có dấu tiền, xì ke, tài liệu… không! Tôi được ưu đãi không bị khám. Nhưng ngồi nhìn cảnh tù Thái bị đối xử chẳng khác gì súc vật, nhất là khi khám phá được vật dấu diếm, tù phạm quy bị đánh đập dã man, tôi thật đau lòng, nhưng không đủ khả năng thay đổi quy định Nhà Tù, đành chịu.

(3) Giải Trí: Rayong có 4 phòng biệt giam dành cho tù tội nặng, bị kòng chân suốt ngày đêm. Tôi thuộc nhóm nầy nhưng được ưu tiên ở phòng 1, rộng hơn, ít người hơn. Ngoài ra, phòng được ngăn cách với phòng lớn bên cạnh bằng hàng song sắt hay vì bức tường nên có thể “xem ké” Tivi của phòng lớn. Quy định nhà tù Thái cũng du di tùy Sếp tù. Phần lớn TV tại các nhà tù được dùng để xem chương trình các Đài Truyền hình, nhưng Rayong thì được xem phim thuê mướn. Những phim hay nhất, mới nhất của Mỹ đều được chuyển ngữ sang tiếng Thái nên xem movie action hàng đêm là một thú tiêu khiển của tù Rayong.

Tôi thì vừa xem vừa “đoán” vì kiến thức tiếng Thái chỉ gồm một số “tục” từ thông dụng. Tiếng Thái có vài trường hợp khôi hài khi so âm với một vài ngôn ngữ khác. Khi đọc báo thấy Nam Cali có Quán Hỷ, tôi viết một chuyện vui nhỏ gừi về. Chuyện một cô gái Huế mời bạn trai người Thái: “Mời anh đi ăn hỷ! Ở Quán Hỷ!” Nghe lời mời nầy chắc anh chàng Thái sẽ đè cô xuống “thịt” ngay vì Hỷ tiếng Thái là “L…” (pussy) và tù Thái thì khoái nhất từ “Hỷ dày dày” (L. bự). Từ khác là “Ki.” Chẳng hạn ở Thái mà cứ luôn miệng dùng chữ “key” tiếng Anh sẽ gặp rắc rối. Chẳng hạn: “Đức Vua là một ‘Key Figure’ của nước Thái” ta sẽ bị bỏ tù vì tội “xúc phạm Hoàng gia, tội khi quân” vì âm “ki” giống chữ “Ki” nghĩa là “cứt” tiếng Thái và “‘ki’ figure” bị hiểu nhầm là “mặt cứt” thay vì “Nhân vật chủ chốt, chủ yếu.”

Mỗi Cai tù Thái là một Ông Vua nhỏ. Họ được tù phục vụ “tận răng.” Hầu hết sếp trực đêm đều enjoy bằng nhậu nhẹt. Sau khi “đã điếu” lăn ra ngủ thì có tù tay nghề cao đấm bóp. DVD/Video Player đặt tại phòng trực. Nhiều sếp lo nhậu quên mở máy, quên thay phim, và khi phim bị “vô tiếng tàng hình” họ cũng không biết, không “care.” Ngay cả có cai tù đi kiểm tra, đứng trước phòng, thấy phim bị cà giật hoặc tịt ngòi họ vẫn tỉnh bơ. Không tù Thái nào dám lên tiếng, dù là tù trật tự, vì có ý kiến là bị đục ngay. Chỉ người duy nhất họ có thể trông cậy là “Big Boss!” Các tù lân cận năn nỉ: “Big Boss gọi cai tù chỉnh máy dùm tụi tôi!” Phòng tôi đầu dãy, đối diện phòng trực vừa gần vừa dễ thấy nên tôi leo lên cửa sổ, vừa đấm tường vừa la lớn: “Movie! Movie!” Có cai tù lật đật đứng dậy sửa ngay, có cai tù giả điếc nhậu tiếp. Thế là tôi phải hét lớn hơn, rung cả cửa sổ đến khi yêu cầu được thực hiện mới thôi. Tù khác chỉ làm ồn chút chút ban đêm có thể bị đánh “nhừ tử” không chút thương xót. Sau này khi quỹ giải trí thiếu hụt, Trại đổi sang xem Truyền hình, và tôi phải giúp giữ chương trình movie bằng cách phụ trách chi tiền mướn phim.

Tù tội nhẹ ban ngày đi làm, tù biệt giam ban ngày được chuyển sang phòng lớn xem Tivi. Tù Thài lại “rù rì”: “Big Boss nói sếp Chaiwat thỉnh thoảng mướn vài cuốn phim Sex cho tụi nầy xem đỡ ghiền!” Tôi bảo: “Sao được? Nội quy cấm mà!” “Người khác không được nhưng Big Boss chắc chắn được!” Đại úy Chaiwat là sếp phó khu cư xá và là “hung thần” của Rayong. Những tên ác nhất thường hèn nhất. Câu nầy rất đúng. Chaiwat “hơi bị sợ” tôi và do y là người toàn quyền khu nầy nên tôi phải dùng y. Y phụ trách chuyển thư từ “lậu” của tôi ra vào Trại, qua Mỹ và khi cần, cả tape recorder để thu âm lời nói của tôi chuyển về cho Đài Quê Hương. Y là một trong ban staff giúp việc của tôi ngoài Luật sư, cô Thư ký, Người Thông dịch, tù phụ trách giặt giũ, đấm bóp, mua thức ăn. Mỗi tháng y được trả công $US100 chưa kể khi đi gặp các Thân hữu đến Thái Lan thăm tôi, các bạn còn “lì xì” thêm nữa. Tôi gọi Chaiwat hỏi nhỏ: “Lâu lâu mướn phim XXX cho tụi nó xem chút chút được không?” “Nếu Hủ Na muốn, tôi sẽ cố gắng!” Chaiwat gật đầu. Mục nầy ở nhà tù Klong Prem lại “tự do!” Ở ngay phòng ăn có dành bàn cho mướn tạp chí Sex và mướn Video phim sex đem về phòng xem ban đêm. Cuối tuần, ngày lễ còn cho Kathoey (đọc: cà thơi) tức Ladyboy dựng lều tiếp khách hay hú hí với tù boyfriend. Dân Thái ngoài mê thể thao, kick boxing còn rất “xọp” (khoái) sex! Bởi vậy kỹ nghệ du lịch sex của Thái ăn khách nhất thế giới. (Hình Kathoey tức Ladyboy của Dan 1, Klong Prem.)

image015.jpg

Thấy ở trong phòng suốt ngày, suốt tháng người ngợm cứ “tả” đi dù vẫn thường xuyên tập thể dục, tôi bèn đề nghị Phó Giám đốc (Ông nầy cũng “hơi bị nể” tôi) rồi chi tiền cho Chaiwat mua đủ thứ đồ thể thao để tuần 2 lần xuống sân đá Takraw (cầu mây), đánh bóng chuyền, bóng bàn, vũ cầu. Tù biệt giam từ đó mới có dịp được hưởng ánh nắng mặt trời và các thú thể thao ưa thích.

(4) Thuyên Chuyển: Người Thái rất “ác,” nhất là cai tù Thái. Bởi vậy không ngạc nhiên khi trên biển cả mênh mông, người vượt biên chỉ sợ duy nhất “Hải tặc Thái.” Dân ngu khu đen dưới sự cai trị quan liêu, hà khắc của Nhà Cầm quyền Thái bị đối xử chẳng khác nô lệ hay súc vật. Người hầu trong gia đình quyền thế vào gặp chủ nhân, cách 3 thước phải quì xuống và đi bằng đầu gối. Khi ra, phải lết 3 thước mới được đứng dậy đi. Thủ tướng và các Lãnh đạo Chính phủ Thái vào gặp Đức Vua cùng hành xử theo thể thức nầy.

Cũng như tại các Quân trường, nơi nào thời Huấn nhục khắc nghiệt nhất, bị “hung thần” đày ải, đày đọa tàn nhẫn nhất, các đàn em từng bị lăng nhục khi trở thành đàn anh sẽ rửa hận, trả thù bằng cách “đì” lại đàn em tận mạng. Đó là tâm lý chung của người Thái và vì sao họ đối xử “quá ác” với nạn nhân, người yếu khi có chút quyền hay có cơ hội.

Tù trình diện cai tù phải quỳ trong khi nói chuyện. Tục lệ nầy không chỉ áp dụng cho tù Thái mà cả tù Mỹ, Pháp, Đức, Anh… (Có lẽ vì quá sợ nên họ bắt chước theo tù Thái?) Tôi gặp cai tù, kể cả Phó Giám đốc, cũng được mời ghế ngồi. Nếu ghế quá “thấp” so với ghế sếp, tôi chỉ đứng, không ngồi. Rayong rất ít tù nước ngoài, thỉnh thoảng mới có một vài bò lạc. Một hôm có một người Đức được chuyển tới phòng cạnh. Anh ta phải đi làm và phải quỳ như tù Thái. Thấy anh ta “hơi bị hèn” nên một buổi tối, tôi kêu lại bảo: “Anh có biết tù ngoại quốc (trừ VN, Lào, Miên, Miến bị người Thái xem “giống hạ đẳng!”) có quyền không lao động và quyền để tóc dài căn cứ theo Luật Thái không? Ngày mai, khi xuống dưới, anh cứ ngồi tại chỗ, không đi làm, tuyệt đối không quỳ. Nếu cai tù thắc mắc, anh nói: ‘Big Boss Lý Tống bảo tôi làm vậy’ và tôi chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm.” Thế là từ đó anh tù Đức suốt ngày “ngồi chơi xơi nước” cho đến khi chuyển đi Trại tù khác.

Kinh hoàng nhất là vụ 2 tù Thái bị đánh chết. Có 3 tù Thái trẻ bị án nhẹ mới được chuyển đến Rayong. Do có máu “dân chơi” “3 chàng ngự lâm pháo thủ” dự tính vượt ngục lấy tiếng. Trong khi làm việc, họ dấu một số giây và que sắt để làm móc ném lên tường, đu leo lên như “Tạc dăng.” Nhà tù nào cũng có ăng ten. Âm mưu 3 người bị bại lộ. Họ bị bắt bò từ nơi làm việc đến Phòng Trực khu cư xá. Trên đường bò lết gần 200 trăm thước, cai tù, đặc biệt tù trật tự, dùng ma trắc, gậy đánh, đâm kết hợp với đá, đạp liên tục. Mỗi lần bất tỉnh, họ bị tạt từng xô nước lạnh cho tỉnh để bò tiếp và bị đánh tiếp. Đến sân Phòng Trực họ bị “bề hội đồng” thêm một trận tới tấp. Lần nầy, nhiều xô nước đổ ào ào lên đầu, lên mình nhưng họ vẫn không tỉnh lại. Chaiwat liền ra lệnh kéo họ vào phòng 3 và phòng 4 kiên giam. Phòng 3 và 4 nằm cuối 2 dãy phòng ngủ đối diện và ở tầng hai. Tù trật tự nắm chân từng người kéo đi. Khi kéo lên các bậc thang, đầu nạn nhân bất tỉnh đập kêu lộp cộp theo từng nấc thang nghe kinh rợn. Vết máu từ các vết thương kéo dài theo hành lang. Chừng 5 phút sau, Phòng 3 la lớn thông báo: “Có người chết!” Thế là tù trật tự lên, lại cầm chân kéo xác lệt sệt xuống lầu. 5 phút kế, phòng 4 lại la tiếp: “Có người chết!” và cảnh trên lại tái diễn. Một xe bò ệch được đưa vào để kéo 2 xác chết ra ngoài. Tưởng đám cai tù kinh hoảng, không ngờ họ lại kéo tù thứ 3 còn lại xuống đánh tiếp. Vậy mà người nầy sau đó còn sống dù bị bại liệt toàn thân.

Chứng kiến cảnh man rợ khủng khiếp, tôi quyết định viết thư gửi cho Tòa Án Hình sự Quốc tế ICC, Cục trưởng Cục Trại giam và báo chí Thái lên án hành động tàn bạo nầy. Khôi hài nhất là thư này lại được chính Chaiwat đem ra trao cho cô thư ký của tôi để cô gửi đi vì y không rành tiếng Anh. Tôi lại yêu cầu gặp Phó Giám đốc. Sau khi nghe tôi khiếu nại, PGĐ phân trần: “Ở Thái Lan, việc đánh chết tù là chuyện bình thường, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng nể anh, tôi sẽ cho thuyên chuyển 2 cai tù nầy ra bộ phận văn thư bên ngoài, không còn tiếp xúc trực tiếp với tù để tránh chuyện đáng tiếc.” Không hề thấy ICC, Cục Trại giam trả lời. Riêng báo chí Thái chỉ đăng tin ngắn tin gia đình 2 tù chết khá giàu định kiện Trại Rayong!

(5) Tuyệt Thực: Tôi tuyệt thực chống việc truy tố sai trái tội Không Tặc dù Cảnh sát tịch thu $US10.000 trong túi Phi công Thira và video ghi cuộc đối thoại đầy tự nguyện giữa tôi và Thira trong lúc rải truyền đơn tại Sài Gòn, trong đó có câu cuối Thira hỏi tôi: “Are you satisfied with the result?” Tôi tuyệt thực đúng 3 tháng gồm 13 ngày cuối kiêm tuyệt ẩm và Trại đã cho Bác sĩ tư vào khám sức khỏe rồi chuyển tôi đi Phòng Cấp cứu. Cục trưởng Cục Trại giam dẫn một đoàn tùy tùng đến thăm tôi. Khi Ông mời tôi ăn trưa cùng Phái đoàn, tôi từ chối và bảo: “Tôi là người sống theo nguyên tắc. Đã tuyệt thực thì tuyệt đối không đụng đến thức ăn, dù được Cục trưởng mời là một vinh hạnh lớn.” Ông đáp lại: “Chúng tôi cũng có nguyên tắc. Nếu chưa được Tòa án xét xử, Đức Vua cũng không có quyền khoan hồng hoặc phóng thích.” Sau bữa ăn trưa trở về, Giám đốc bệnh viện bảo tôi: “Chánh Văn phòng của Đức Vua có gọi điện thoại hỏi tôi về tình trạng sức khỏe của anh. Ông bảo: ‘Nếu ông Lý Tống chết, anh sẽ vào tù thế chỗ!Do vậy, khi anh bất tỉnh, tôi sẽ chích thuốc cứu anh. Anh có thể sống ‘đời thực vật’ nhưng không thể chết!” Sau nầy ông còn nói thêm: “Trong lịch sử nhà tù Thái Lan, lần đầu tiên một Cục Trưởng Cục Trại giam đi thăm một người tù. Và vĩnh viễn sau này sẽ không bao giờ tái diễn dù người tù đó là một Quan chức Thái cao cấp!” Riêng Luật sư lại kể chuyện ông từng gặp Thiếu Tướng Giám Đốc Trường bay tôi mướn phi cơ trong một bữa tiệc. Đức Vua từng gọi ông ta vào hầu và bảo: “Nếu ông Lý Tống, thay vì mang truyền đơn về rải tại VN, lại mang bom thả vào dinh của Trẫm, thì giờ nầy Trẫm sẽ ra sao? Khanh biết tội của mình lớn thế nào không?” Ông Giám Đốc đập đầu xuống sàn nhà đến tóe máu và không ngừng van xin: “Tội thần đáng chết! Tội thần đáng chết! Xin Bệ Hạ rộng lòng tha tội chết.”

(6) Tòa Án: Do Chánh án vẫn tiến hành xử tội Không tặc theo lời luận tôi của Công tố dù có đầy đủ bằng cớ chứng minh Thira tình nguyện hợp tác, tôi tức mình tuyên bố: “Ngày nào tôi chưa đưa Quan Tòa ra Tòa và chưa đưa Cai tù vào nhà tù, ngày đó tôi sẽ chết không nhắm mắt!” Thông dịch viên không dám dịch vì sợ bị nhốt 6 tháng tù. Tôi yêu cầu quan tòa cho ông dịch. Tòa chấp thuận. Sau khi nghe dịch, Chánh án bảo: “Tôi sẽ kết anh thêm tôi ‘khinh mạn Tòa án!’” Tôi độp lại: “Tội ‘khinh mạn Tòa án’ không nặng bằng tội ‘khinh mạn công lý,’ nhất là người phạm tội lại là Chánh án và Công tố!” Sau đó Chánh án xin rút lui, Tòa đổi Chánh án khác.

  1. Nhà Tù Klong Prem: Sau khi có án, tôi được thuyên chuyển đến nhà tù Klong Prem.

(1) Văn Phòng: Tôi được bàn giao cho Dan 1 là Dan rộng nhất, thoải mái nhất. Mỗi Den (building) có một số nhà gác để sếp tù ngồi làm việc, ăn, nghỉ nhưng Den 1 (trong 8 Den của Klong Prem) có một nhà gác thừa được dành cho Big Boss Lý Tống. Hàng ngày tôi ngồi đó một mình đọc sách, ăn uống, tập thể dục và tập võ với một tù Nam Hàn Đệ tứ đẳng Taekwondo có trả lương. Đây cũng là nơi tôi trưng bày Thiệp chúc Tết Đồng Bào gửi và thù tiếp bạn tù (Hình Văn phòng “Big Boss” Lý Tống).

 

image016.jpg

(2) Bầu Đội Bóng: Do muốn đi lại nghiên cứu tình hình canh gác các Den để tìm cách vượt ngục tránh bị Dẫn độ, tôi tình nguyện làm Bầu Thể thao dẫn Đội Bóng đá, Đội Cầu mây qua các Den khác thi đấu. Chức nầy hơi “hao” vì tôi tình nguyện chi tiền mua đồng phục thể thao, mua bóng, cầu và đặc biệt thức ăn, nước uống, dầu nóng, thuốc hút… mỗi khi đi thi đấu. Tại Klong Prem, Den 6 là nơi đầu tiên tù trình diện để được phân bố đi các Den khác. Do đó tất cả những cầu thủ giỏi nhất đều được giữ lại nên Den 6 luôn luôn dẫn đầu mọi môn đấu. Den 1 của tôi đứng hạng chót. Sau một thời gian, tôi đưa đội bóng lên hạng nhì bằng 2 biện pháp:

  1. Thưởng: Ai làm 1 bàn được thưởng 200 baht (5 MK thời đó).
  2. Khẩu Hiệu:Dinh mác kinh mác. Dinh xuội kinh xuội. Mai dinh mai kinh!” (Sút nhiều thắng nhiều. Sút đẹp thắng đẹp. Không sút không thắng.) Sân đá bóng nhà tù rất nhỏ, gôn hẹp và thấp nên tù lừa loanh quanh trước sau cũng mất banh vì sân chật, cầu thủ đông. Tôi chạy tới chạy lui dọc theo rìa sân, cứ thấy từ trái banh đến gôn không bị cản là hô lớn: “Dinh, dinh” dù xa hay gần, vì từ gôn nầy có thể sút thẳng qua gôn kia dễ dàng do chỉ cách vài chục thước.

Đây cũng là dịp tôi chụp hình gửi về Mỹ để Đồng Bào theo dõi tin tức, bởi nhà tù cấm chụp hình, trừ dịp Tết và chỉ đặc biệt ưu tiên các đội bóng. Tôi còn phương tiện khác: Kêu tay “xịp vin” (cai tù, tiếng Thái) “đệ tử” hình trên dấu máy vào chụp khi tôi có yêu cầu. (Hình “Ông Bầu” đội bóng (đội nón), và hình chụp với Thiếu tá Trưởng Dan 1.)

image017.jpg

image018.jpg

 

(3) Bể Nước: Thái Lan quanh năm nắng nóng, ngay cả Ngày Giáng Sinh. Thỉnh thoảng mới có một trận mưa rào, chỉ kéo dài vài chục phút hoặc vài giờ, không dầm dề nhiều ngày, nhiều tháng như VN. Do đó khan hiếm nước và nước có mùi là chuyện bình thường. Hầu hết các nhà tù chỉ cho tù tắm ngày 1 lần và mỗi lần chỉ được dội tối đa 8 ca nước, có lúc rút xuống còn 6 ca. Tới giờ tắm, tù đứng sắp hàng bên ngoài và tù trật tự cho tù vào từng đợt, vừa đủ để đứng sát nhau quanh bể nước. Tù trật tự đứng trên bể nước quan sát và thổi còi. Cứ mỗi tiếng Tít, tù múc một ca dội lên người, nhịp nhàng không trễ, không sớm. Sau 4 Tít, 4 ca, tù bắt đầu thoa xà phòng lên người. 4 Tít tiếp, tù vừa dội 4 ca còn lại, vừa chà sạch xà phòng. Xong, đi ra. Tù nào “ăn gian” múc thêm 1 ca sẽ bị tù trật tự nện cho mấy hèo trị tội.

Dan 1 Klong Prem không rập theo khuôn “tắm 8 ca nước” nhưng gặp trở ngại nước dơ và giờ tắm eo hẹp. Bồn tắm tập thể rất lớn, dài hơn 30 mét, rộng 2.5 mét và cao 1.2 mét. Tù chen lấn nhau tại vòi để hứng nước đang chảy vì nước trong bể đầy rong rêu cáu bẩn. Nước dơ do bể nước quá cũ, nứt bể, lồi lõm nên dù tù làm vệ sinh trang bị đủ đồ nghề để quyét, cào, kỳ cọ vẫn không sạch do thì giờ hạn chế, tuần 1 lần và do tập tính “nước sông công tù.” Do đó chỉ sau một hôm, rong rêu đã nổi lềnh bềnh. Nhà cầu dơ dáy, nước cầu cáu bẩn. Tôi bèn “deal” với Sếp Den 1: “Nếu Sếp đồng ý cho tù tắm giặt thoải mái, tôi sẽ chi tiền tráng gạch men toàn bộ bể nước, nhà cầu để dễ chùi rửa, vừa sạch vừa đẹp.” Sếp OK, tôi chi tiền mua xi măng, cát sạn, gạch men… tổng cộng tốn hết $US 3.500. Từ đó tù Den 1 tắm rửa, giặc giũ và đi vệ sinh thoải mái.

(4) Quà Tù: Mỗi năm 2 dịp, Tết và Sinh Nhật, tôi đặt căng tin bên ngoài cung cấp khoảng 600 con gà hay 600 nải chuối (loại rất lớn), tặng mỗi tù 1 con gà hay 1 nải chuối. (Den 1 chứa từ 600-700 tù). Mỗi lần Vinh, Úc Châu, qua thăm, Vinh thường mua cả xe bò thức ăn để tôi đem vào phát cho bạn tù.

  1. Nhà Tù Bangkok Remand:

Sau khi thi hành án Không tặc xong, tôi bị chuyển đi Remand chờ xử Vụ án Dẫn Độ theo yêu cầu của CSVN.

(1) Đụng Độ: Tôi được xếp vào Den 5. Đến nơi, sau khi xét đồ, chúng tôi được lệnh sắp hàng đến phòng hớt tóc! Tôi từ chối hớt tóc vì Luật Thái không bắt buộc tù ngoại quốc lao động và cắt tóc ngắn. Trưởng Den 5 báo Phó Giám đốc và ông xuống gặp tôi. Khi tù thông dịch bảo: “Quỳ xuống,” tôi trừng mắt và đứng yên. Tôi giải thích: “Tôi không phải từ ngoài đời mới vào mà từ nhà tù Klong Prem đến. Tôi đã qua 5 nhà tù trong 6 năm và tóc tôi vẫn để dài. Nếu Trại nầy bắt buộc tất cả tù hớt tóc, lao động thì xin ông hoãn cho tôi 1 tuần. Tôi sẽ yêu cầu Tòa Đại sứ Mỹ chuyển tôi đi nhà tù khác.” Họ chấp thuận. Tôi liên lạc và Lãnh sự cho biết ở Thái Lan chỉ có Remand là nhà tù duy nhất giữ tù Dẫn độ nên tôi không thể nào chuyển trại được. Ông nhấn mạnh: “Mỗi Quốc gia, mỗi Nhà tù đều có luật lệ, quy định riêng khác nhau, Chính phủ Mỹ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ. Tôi khuyên anh nên chấp hành lệnh để tránh rắc rối!

Đúng 1 tuần sau, tôi được lệnh lên Phòng Phó Giám Đốc trình diện cùng Th/ Tá Trưởng Đen. PGĐ bảo: “Một tuần đã qua. Bây giờ anh có chấp hành quy định của Trại không?” Tôi lập lại: “Luật nước Thái không bắt tù ngoại quốc lao động và hớt tóc. Tôi chỉ chấp hành Luật của nước Thái.” Ông gắt lại: “Nhà tù này có quy định riêng. Tất cả tù đến Remand đều phải hớt tóc, lao động, bất kể quốc tịch gì!” Tôi chỉ mặt Sếp nói lớn: “Luật của ông là luật rừng! Các ông là Mafia Boss!” Nói xong, tôi quay lại bức tường sau lưng, đập đầu vào tường 3 phát đùng đùng, biểu diễn “Công phá” rồi quay lại, tay chỉ vào đầu mình thét lớn: “You can cut my head but you can’t cut my hair!” (Ông có thể cắt đầu tôi nhưng không thể cắt tóc tôi!) PGĐ kinh hoàng, lính quýnh hạ giọng: “Để tôi hỏi ý kiến của Giám đốc Trại.” Tôi độp tiếp: “I don’t care your goddamn Director! Ông hãy hỏi Cục Trưởng Cục Trại giam, Sếp số 1 của ông, để biết tôi là ai!” Nói xong tôi bỏ về phòng. Chỉ 2 giờ sau, Trưởng Dan 5 tìm gặp tôi và nói: “Cục Trưởng cho phép anh để tóc, khỏi lao động và muốn ở phòng nào cũng được. Mong anh từ nay đừng ‘quậy’ nữa và để chúng tôi yên.”

(2) Kiếm Điểm: Nhà tù Thái có thành phần “kiến càng” do ăn uống đầy đủ và có thì giờ tập luyện. Trưởng Den chọn tay “kiến càng” số 1 làm đệ tử đấm bóp hàng ngày. Sau khi bị “một trận” ông rất ấm ức, nên khi được đệ tử phục vụ, ông kể lại chuyện bị tôi mắng “Luật rừng, Mafia Boss” để giải tỏa ẩn ức. Tay đệ tử, do muốn kiếm điểm, tự vạch kế hoạch trả thù cho Sếp. Y rình rập theo dõi và khi biết tôi có thói quen ngồi đọc sách tại thư viện hàng ngày, y bèn dùng một chiếc đòn gỗ tù dùng để ngồi lúc tập họp và lao động lén đến sau lưng tôi rồi quất mạnh vào mặt tôi. Nhờ tập “công phá” đập đầu, đấm đá vào tường hàng ngày nên phần mặt đòn trúng trán chỉ làm da ửng đỏ, nhưng cạnh đòn trúng vào sóng mũi gây một vết cắt sâu, máu phun dầm dề. Tôi được đưa đi bệnh xá. Cả PGĐ và Trưởng Dan đến xin lỗi rối rít. Tôi hỏi: “Có phải 2 ông bật đèn xanh cho tên tù đánh tôi để trả thù?” Hai ông đều bảo không đời nào, đây chỉ do tên tù hiểu nhầm và muốn kiếm điểm. Họ bảo sẽ đưa tay nầy ra Tòa để trị tội hành hung tôi. Thấy họ thật lòng, tôi bảo: “Chuyện lẻ tẻ, bỏ qua đi” rồi phịa thêm để “hù”: “Tôi đã ở nhiều Trại tù, và đã từng trừng trị nhiều Bố già bằng chiêu ‘Trình Giảo Kim ba búa!’ Búa đầu tôi đập vào đầu gối để chúng khuỵu xuống không chạy được. Búa nhì đánh vào cùi chỏ để chúng không còn khả năng đánh trả. Và búa thứ ba đánh vào mồm để miệng chúng câm luôn. Đánh chết một Mafia chỉ dăm bảy tháng sau đám ‘đầu gấu’ sẽ quên. Nhưng với ‘Ba búa’ tên bị đánh trở thành tàn tật, chân quẹo, tay vẹo vừa lết đi ẻo ẹo vừa dãi nhớt dòng dòng từ chiếc miệng méo gãy hết răng mới gây ấn tượng mạnh để chúng kinh hãi suốt đời!” Tôi được cho nằm phòng lạnh bệnh viện 1 tháng dưỡng sức dù chỉ mấy ngày sau vết thương đã liền miệng. Tuy vậy vết thương cũng làm mũi tôi “ngắn” lại một chút, làm mất bớt vẻ “đẹp lão” đôi chút dù chỉ những người tinh ý mới nhận ra.

(3) Bể Nước: Remand thuộc diện “tắm 8 ca” đã diễn tả trên và bể nước lại nhỏ bằng 1/2 Klong Prem. Den 5 lại ở cuối đường nước nên nạn khan hiếm nước càng trầm trọng. Tôi lại deal với Trưởng Den và ông chịu điều kiện cho tù tắm giặt thoải mái 6-7AM và 3-4PM. Không chỉ lát gạch men bể nước, nhà cầu, tôi còn cho lát gạch quanh hồ cá để tù có chỗ ngồi chơi, xem đá bóng vào buổi chiều sau giờ làm việc. Ngoài ra còn phải mua 1 máy bơm mới thuộc loại mạnh nhất. Chuyến này tốn gần $US 4.000. Ngoài ra tôi còn dành việc mở nước bởi tên tù phụ trách nhiều lúc mê đá banh, về bật công tắc trễ nên không đủ nước.

Tôi còn được tù Remand trông cậy 2 trách nhiệm quan trọng khác: Lén bật công tắc TV trung tâm để vừa lên phòng là xem TV được ngay và “la làng” khi Cai tù quên mở nước ban đêm bởi không thiếu Cai tù tà tà chỉ bận nhậu nhẹt nên việc không có nước dội cầu, tắm tối và mất xem chương trình truyền hình là việc xảy ra như cơm bữa.

Tại Remand ngoài tôi và sau đó Võ Đức Văn đến ở Dan đối diện có khoảng vài chục tù VN khác. Tôi lấy tên họ ghi vào Danh sách, thỉnh thoảng nhờ Cai tù “đệ tử” hay Thân hữu đến thăm gửi giúp họ mỗi người vài ngàn baht. Riêng Văn, khi về Mỹ, tôi trao tận tay Thân Mẫu Văn $US1.000 để yểm trợ bạn hiền. Do phiên Tòa sơ thẩm đã chấp thuận yêu sách Dẫn độ của CSVN, tôi bèn nhắn Lê Ngoạn “cưa đôi” số tiền Quỹ Đồng Bào yểm trợ để gửi giúp Khối 8406 số tiền $US24.196. Sau nầy khi Tỉ phú Trần Đình Trường tặng tôi $US2.000, tôi bèn tặng luôn cho đủ số 26 ngàn 196 MK.

Khi được Tòa Phúc thẩm Chính phủ mới sau đảo chánh phóng thích, tôi được chuyển đến Bangkok’s Immigration Detention Center chờ máy bay về Mỹ. Tôi về trễ vì nhà tù Remand định “quỵt” 10 ngàn MK trong tài khoản của tôi với lý do: “Phòng Tài chánh hết tiền!” Buổi tối cuối cùng ngồi chờ tại Phòng Trực, tôi được Cai tù cho xem phim James Bond do tài tử Anh Daniel Craig đóng vì báo chí đăng “Ly Tong, The James Bond of Vietnam.” Tôi nhờ họ đi mua bia và đồ nhậu để chiêu đãi. Khi nghe tin tại đây có nhiều người Việt bị giam nhiều năm chỉ vì lý do duy nhất: “Không có tiền mua vé máy bay trở về VN” tôi gợi ý muốn giúp nhưng chỉ đủ khả năng giúp chừng vài chục người. Cai tù dẫn tôi đến một phòng Nữ mà cảnh tù nằm chen chúc giống như “cá hộp.” Tôi hỏi: “Cháu nào là người Việt đến đây gặp chú!” Không thấy ai nhúc nhích, tôi hỏi Cai tù: “Tại sao vậy?” Ông giải thích: “Ở đây đứng dậy đi vệ sinh cũng mất chỗ nên có nhiều người ‘nín’ đến độ bể bọng đái luôn. Anh phải nói rõ chuyện cho tiền mới được.” Tôi lại lên tiếng: “Chú là Lý Tống mới được phóng thích và đang chờ về Mỹ. Cháu nào người Việt không có tiền mua vé máy bay đến đây chú tặng mỗi cháu 200MK.” Lúc đó mới có 20 cô lật đật đứng dậy giẫm bừa lên bạn tù đang nằm la liệt để đi. Họ rối rít cám ơn: “Không có chú chắc tụi cháu ở tù mút mùa!”

Để có khả năng đem lại chút hạnh phúc nhỏ cho những người tù khốn khổ và đóng góp phần nhỏ trong Sự nghiệp chống Cộng cứu nước, tôi cần gửi lời Tri Ân đến Đồng Bào, đặc biệt các Mạnh Thường Quân, đã đấu tranh, vận động để tôi sớm được phóng thích và yểm trợ tài chánh để tôi có phương tiện thực hiện các Phi vụ và làm những việc tốt có ích cho đời, cho người.

(4) Nay Pol: Ở Remand, không chỉ là tù duy nhất để tóc dài và không lao động, tôi còn là người duy nhất được đội nón và đi dép, hai món bị cấm vì tù có thể dùng để dấu tiền, xì ke, thư lậu… Trong một lần đi thăm nuôi, tôi bị một cai tù mới đổi tới chỉ mặt và quát: “Ai cho mầy đội nón, đi dép?” Tôi quát lại, tay chỉ vào mình: “Lú Nay Pol, Pol Tho?” (“Mày có biết tao là Trung Tướng không?” Đây là lần đầu tiên và duy nhất tôi tự nhận chức “Trung Tướng dởm” bất đắc dĩ bởi chức nầy do chính Cai tù và Báo chí tự suy diễn rồi phổ biến.) Tên cai tù vừa đi giật lùi, miệng lắp bắp ú ớ: “Nay… nay… pol!” và đưa tay lên chào. Y đi hỏi các cai tù khác và họ cho anh ta xem các tờ báo Thái đăng tin Trung Tướng Lý Tống.

Riêng tờ Daily News post ở trên là tờ báo được Cục Trại giam chọn và đặt mua cho tù xem. Báo này được hầu hết các tù đọc vì mỗi Dan có Bảng cáo thị để dán tin tức và báo hàng ngày. Cai tù “đệ tử” ngày hôm sau, khi thay báo mới, lấy tờ báo cũ dán ở bảng tặng tôi và tôi vẫn giữ đến ngày hôm nay để kỷ niệm một thời làm “Trung Tướng dởm” khá ly kỳ và khôi hài.

LÝ TỐNG

 

PHI VỤ TỬ THẦN

 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của không lực Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa chiến tranh, và không lực Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của không đoàn 92 chiến thuật Phan Rang.

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong những năm trước. Theo nhận xét của các sĩ quan tình báo vùng II, chiến thắng Dziên Bình đã làm trì trệ nặng nề công việc tiến công xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nếu không có trận Dziên Bình, chắc chắn ngày Quốc Hận được dời về một thời điểm nào đó vào cuối năm 1974 thay vì 30-4-75.

Phi Vụ Tứ Thằn bắt đầu từ một buổi sáng mờ sương tại phi trường Pleiku Vùng II Chiến Thuật, Đại Tá Lê Văn Thảo khẩn cấp triệu tập Phi đoàn Ó Đen 548 với những lời giận dữ:

— Các anh biết rằng, chúng ta đã áp dụng chiến thuật đánh BOBS (Beacon Only Bombing System) suốt hơn nửa năm vẫn chưa hạ được cầu Dziên Bình. Đó không phải là lỗi của ta, mà là lỗi kỹ thuật của trung tâm hướng dẫn BOBS. Điều không thể chấp nhận là sáng hôm nay, buổi sáng xuất quân đầu tiên với kế hoạch tấn công mới, phi hành đoàn cảm tử gồm hai người của đệ nhất phi đoàn phản lực A37 lại quyết định rút lui một người sau một tháng tập luyện ròng rã loại bom mới snack eye. (Một loại bom nổ dùng thả ở độ thấp, sau khi được thả, một hệ thống dù sẽ trì hoãn tốc độ rơi của bom, giúp cho phi công có đủ thì giờ đưa phi cơ ra khỏi vùng sát hại.) Bây giờ các anh, phi đoàn A37 trẻ tuổi nhất không lực Việt Nam Cộng Hòa, các anh có tình nguyện đảm nhận trách nhiệm nặng nề này không?

Phi công Không lực Việt Nam Cộng Hòa không thiếu gì lúc phải bốc thăm vì số tình nguyện nhiều hơn số nhu cầu. Hình như chết đến nơi vẫn cười là một đặc tính cố hữu của những người lính mặc áo liền quần. Họ sống thật hồn nhiên, không tính toán, đi vào lửa đạn như đi dạ vũ, không khoác lác, không so bì, không kèn cựa.

Thế nhưng, đặc biệt với cầu Dziên Bình, người cảm tử quân cầm chắc cái chết. Phi đoàn 524 có lý do chính đáng để rút lui một trong hai chiếc phi cơ, bởi vì yếu tố bất ngờ chỉ dung tha phi cơ đầu tiên, chiếc thứ hai chỉ là một con mồi thiêu thân trong chiến thuật xung kích. Trận địa phòng không với hai trung đoàn pháo cao xạ danh tiếng nhất miền Bắc kết hợp với hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 cùng hàng ngàn súng lớn, nhỏ khác của ba Trung đoàn Bộ binh Cộng Sản bố trí theo chiến thuật đan lưới để giữ vững một đầu cầu chiến lược quan trọng bậc nhất của vùng ba biên giới Việt Miên Lào. Thiếu Uý Bá đã ví von một cách sống động và đầy ấn tượng về sự khủng khiếp của hệ thống phòng không Dziên Bình:

Về đêm Dziên Bình bắt đầu khai hỏa trông giống như thành phố San Francisco vừa lên đèn!”

Ó Đen 548 Trung Tá Trần Mạnh Khôi (Ó Đen 01) chỉ huy là một loại hậu sinh khả úy, đã gây nhiều sóng gió khắp chiến trường. Nhưng sự hi sinh thảm khốc của sáu phi công phi đoàn trong một thời gian ngắn đã làm nhiều bàn tay lưỡng lự, nhiều quyết định đắn đo thận trọng. Nào Hỷ bị phòng không 57 ly bắn tử thương trên vùng trời Mộc Hóa không lấy được xác, nào Thức bị gãy cánh bay tại Ban Mê Thuật, chết không toàn thây, nào Kỷ rơi một cách thầm lặng khi hai trái bom vừa rời khỏi cánh trên đỉnh núi Bà Đen, nào Anh cắm mũi phi cơ xuống một hồ nước ở trên vùng phụ cận Đà Lạt, và hai người bạn phi công khác, đâm sầm phi cơ vào núi chết tan xác, chỉ còn lại hai nón bay, sau một phi vụ trở về trong lúc thời tiết xấu cùng cực. Sự im lặng nghiêm trọng bỗng òa vỡ như tiếng xì lớn của một quả bóng quá căng vừa bị đâm thủng khi tôi đứng dậy, xung phong tình nguyện.

–   Lý Tống!

Tôi nói gọn, đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm những đồng minh cảm tử:

  • Ê! Sư phụ chơi chứ!

Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương (Ó Đen 04) lấp bấp, ấp úng:

  • Sợ gì!

Tôi hất mặt về phía phải:

  • Ê! Minh chù, mầy còn chờ gì nữa!

Trung Uý Minh (Ó Đen 08) trọ trẹ giọng Huế:

*
  • Đâu có ngán. Đồ đất sét!

Lúng túng chưa biết phải bắt cóc thêm tay độc thân lì lợm nào nữa thì Thiếu úy Hóa, một phi công trẻ vừa du học Hoa Kỳ về, một tay điếc không sợ súng hăng hái đưa tay tình nguyện.

Phi vụ cảm tử bắt đầu, bốn chiếc A37 cất cánh rời phi trường Pleiku. Đến không phận Kon Tum, phi cơ xuống cao độ dưới 500 feet, bay vòng, chờ giờ hẹn.

–   Black Eagle combat formation.

Tiếng leader Xương vang lên ngắn gọn. Bốn phi cơ theo đội hình chiến đấu hướng về cầu Dziên Bình. Trời mù tối vì thời tiết xấu. Chúng tôi bay len lỏi giữa các sườn núi thấp mây mù phủ kín bầu trời, thỉnh thoảng giật thót mình kéo mạnh cần lái vì những ngọn cây cao chợt xuất hiện trước mũi phi cơ. Sự phôi hợp tác chiến khá chặt chẽ, khi 40 phi cơ do Đại Tá Thảo chỉ huy bay 20.000 feet vừa rải thảm hàng loạt bom xuống khu vực cầu Dziên Bình để đánh phủ đầu trận địa phòng không địch, và khi cột khói cuồn cuộn bốc lên, Thiếu Tá Xương cũng vừa báo cáo: “số 1 in hot. ” Chiếc phi cơ từ dưới một khe suối bất ngờ phóng lên lấy cao độ rồi đâm bổ nhào xuống thả một loạt sáu trái bom. Bom cày nát con đường nhựa rộng và chấm dứt tại mép đầu cầu.

  • Hơi ngắn. Sô’ 2 off left.

“Hóa nhí” lủi dài theo bờ sông tẩu thoát sau khi ném một loạt bom rơi lỏm bỏm xuống sông, cặp sát mép trái cạnh cầu. Tiếng không đoàn trưởng, gào thét trên tầng số khi số 2 vừa nghiêng cánh vào mục tiêu:

  • Phòng không rát quá. Tất cả ra khỏi vùng, hủy bỏ phi vụ!

Tiếng hối thúc, tiếng la hét ngập ngụa trong nỗi kinh hoàng sợ hãi, trong nỗi cuống quýt lo âu.

– Ra hết. Nhanh lên không chết hết.

Tinh thần trách nhiệm đối với sự an nguy của phi công trong Không Đoàn đã buộc Đại Tá Không Đoàn Trưởng thay đổi ý định trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Tôi mím môi, giả điếc, phải chơi đến cùng dù phải gãy cánh tại đây. Tôi ôm mối hận Dziên Bình nửa tháng qua, tôi phải rửa hận, phải phục thù. Phục thù chính bản thân mình bởi vì, trong một phi vụ đánh BOBS, phi tuần 12 chiếc A3 7 do Đại úy Nguyễn Bảy (Ó Đen 05) lead, trong khi đang bay 20.000 feet và thả bom theo tín hiệu radio hướng dẫn, tôi đã tự ý lén bỏ formation, một mình len lỏi qua các tầng cao độ dày đặc đạn phòng không. Đạn 23 ly rải những cánh hoa đen tử thần trên không trung như những bông sen chen chúc trên mặt hồ sen. Những hoa khói 37 ly treo lơ lửng như những chùm lan rừng. Thiếu Tá Trần Thanh Minh (Ó Đen 03) từng theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ bay chinh phạt miền Bắc đã phải thú nhận:

  • Suốt cuộc đời bay bổng, tôi chưa từng thấy trận địa nào phòng không kinh khủng như cầu Dziên Binh.

Tôi len lách giữa các ngón tay bạch tuột nhám nhít độc địa đang líu quíu vồ chụp cánh chim sắt, nghiêng cánh ở turning base, cao độ 4,000 feet, đụng phải một đám mây nằm cản ở điểm quẹo in hot. Bị overshoot, tôi trượt cánh phi cơ vào mục tiêu, cố trườn tâm điểm kính nhắm vào giữa cầu và bấm bom. Vì ảnh hưởng lực ly tâm do đạp ép rudder quá mạnh, tất cả loạt bom chém trượt thành cầu rơi bỏm xuống sông. Nếu tôi đừng vội, nếu tôi bình tĩnh làm một dry pass quành lại một vòng khác rồi bấm bom, nếu tôi… làm sao để tự thắng được cái bản ngã yếu đuối, làm sao để tự chủ trong những giờ phút cô đơn đầy hiểm nghèo đã trở thành người bạn đồng hành của người lính “chết không chiến trường” như những phi công. Tôi đau khổ trằn trọc nhiều đêm vì chữ nếu. Phải phục hận! Tôi bổ nhào phi cơ xuống mục tiêu, khói của loat bom “Hóa nhí” che lấp chiếc cầu, tay tôi khựng lại khi ngón cái đụng vào nút đỏ bấm bom trên cần lái:

– Số 3 dry pass. Tiếng nói khô, sắc, lạnh lùng bất chợt phát qua cổ họng tôi. Tôi gặt mạnh stick về phía phải, tiếng gào của Đại Tá Thảo trên tầng số khàn đặc và thất đảm:

Ra ngay, ra ngay, phi vụ hủy bỏ.

Tôi không còn thấy lưới đạn phòng không vây bọc quanh mình. Phi cơ bị chòng chành mạnh bởi những khối lửa và sức nổ của họng súng phòng không, bởi những khối không khí hỗn loạn do sức đạn phóng đi. Lưới đạn lửa giăng kín hạn chế tầm nhìn xa.

  • Sô’ 4 in

Nhiều tiếng la lớn trên tầng số:

  • Sập rồi! Sập rồi!

 

Trung úy Minh (biệt danh Minh Chù, người đưc Hà Thúc Sinh nhắc đến trong “Đại Học Máu” không biết đã chết hay bị di chuyển đến một trại tù đặc biệt nào) là số 4 chót, nhưng bất ngò dứt điểm một cú đẹp đầu tiên. Tôi quành lại, bổ nhào xuống góp những trái bom khiêm nhường đánh bồi vào chiếc cầu vĩ đại đang sụp đổ. Vừa cất mũi phi cơ lên, tôi thót giật mình vì một quả hỏa tiễn Sam phóng lướt qua đầu. Không phải! Đại Tá Võ Vãn Ân, Không Đoàn phó, một sư phụ chịu chơi, vừa chơi bạo một cú low pass trên cầu Dziên Bình để tìm cảm giác. Không đoàn 92 chiến thuật không quân Phan Rang được tưởng thưởng gần 100 huy chương có giá trị và một số tiền lớn để tổ chức liên hoan. Trong lúc cụng ly, Thiếu Tá Nguyễn Thượng Tứ cười góp ý:

—Thằng đánh sập cầu Dziên Bình trái bom đầu tiên thật tuyệt. Nhưng thằng tình nguyện, động viên anh em tình nguyện và dám làm một go around trên cầu Dziên Bình còn đáng phục gấp bội!

Sau chiến thắng Dziên Bình, Phi đoàn 548 thừa thắng xông lên nện một vố thật mạnh làm tan tác tiểu đoàn chủ lực của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản, trong một phi vụ vào một đêm giông gió cuồng loạn. Phi vụ thành công do một lỗi lầm của tôi vì Thiếu Tá Chấn (Ó Đen 02) leader, sau khi cross check, thây phi đội hầu như đang bay trên vùng phi trường Phù Cát, cho rằng đài BOBS nhầm lẫn nên không bấm bom. Tôi vì quen tay, nghe tiếng “tè… ” tín hiệu dài là ấn nút nên tất cả phi công trong đội hình bám theo phía sau đều đồng loạt thả bom theo loạt bom đầu của phi cơ tôi. Tôi bị khiển trách trên đường về thì… tin đại thắng vừa bay đến sáng hôm sau, bởi vì Cộng Quân đã đột nhập đến sát vòng đai phi trường, và chính những trái bom tưởng thả nhầm lại tiêu diệt toàn bộ địch quân. Số tử thi địch quá nhiều không chôn kịp trong một tuần lễ đã sình thối làm nồng nặc cả vùng phi trường Phù Cát.

LÝ TỐNG

Advertisements

Author: Lý Tống

Lý Tống sinh ngày 01/09/1945 tại Huế, gia nhập Binh chủng Không Quân năm 1965, thuộc Khoá 65A, và du học Hoa Kỳ năm 1966. Vì trừng trị một niên trưởng hắc ám, Lý Tống bị kỷ luật, bị sa thải và trở về nước. Lý Tống được tuyển vào hãng Pacific Architech & Engineer và chỉ trong vòng 3 tháng thực tập ngành Thảo Chương Viên, Lý Tống tự động sửa một program chính của hãng, giảm thiểu nhân số phòng Phân Tích từ 5 nhân viên xuống còn một mình Lý Tống. Do công trạng thần kỳ đó, Lý Tống được Chủ Tịch Hội IBM Chapter Việt Nam đề nghị bầu vào chức Phó Chủ Tịch và cấp học bổng du học ngành Programmer. Nha Động Viên đã gọi Lý Tống nhập ngũ Khoá 4/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trước khi Lý Tống hoàn thành thủ tục nên anh bỏ mất cơ hội du học Hoa Kỳ lần thứ nhì. Lý Tống là người duy nhất bị sa thải vì kỷ luật được trở lại Không Quân Khoá 33/69 và tốt nghiệp Hoa Tiêu ngành Quan Sát. Năm 1973, Lý Tống được huấn luyện lái phi cơ A.37, trở thành Phi Công Phản Lực Cường Kích. Vốn là người của xứ cố đô ngàn năm văn vật, Lý Tống là một tổng hợp của nhiều con người : Vừa giang hồ lãng tử, vừa nghệ sĩ, businessman, vừa là hoa tiêu gan lì gai góc. Đề cập đến các chiến tích lẫy lừng với danh hiệu Top Gun của Lý Tống, có câu nhận xét của Phi công cùng Phi Đoàn Ó Đen thường được nhắc nhở đến : “Nếu 4 Vùng Chiến thuật có 4 Lý Tống, VC sẽ không ngóc đầu lên nỗi !“. Về Danh Hiệu PAPILLON, Lý Tống đã sáu (6) lần vượt ngục, chỉ thua Papillon Pháp, người vượt ngục chín (9) lần. Sự khác biệt giữa Henri Charrièrre và Lý Tống gồm các điểm : * Henri chuyên vượt ngục bằng đường biển, Lý Tống “chuyên trị“ đường bộ.* Henri luôn luôn dùng tiền nhờ người khác giúp đỡ và hợp tác, Lý Tống chỉ trốn một mình và mọi kế hoạch từ A đến Z đều chính tự mình vạch ra và thực hiện. * Ngoài ra, Henri chỉ chú tâm vượt rào “ra“ vì sự sống còn của bản thân, Lý Tống còn 3 lần vượt rào “vào“ các Phi trường (2 lần Phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần Phi trường Ubon Rachathani tại Thái Lan, tức Tổng cộng 9 lần bằng Henri Charrière) để đánh cắp máy bay, thi hành các Điệp vụ vì sự sống còn của Dân tộc VN. Thành tích vượt ngục được Ông Julian, Trưởng Phòng Phản gián Singapore, đánh giá : “Lý Tống là bậc thầy của Papillon“. Tháng 09/1981 Lý Tống rời quê hương tìm tự do bằng đường bộ, xuyên qua 5 quốc gia, dài hơn 3 ngàn cây số, trong thời gian gần 2 năm, trốn thoát 3 nhà tù, cuối cùng bơi qua eo biển Johore Baru từ Mã Lai đến Singapore, và được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho đi định cư tại Mỹ vào ngày 01/09/1983. Cuộc hành trình vượt biên tìm tự do của Lý Tống ly kỳ vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị của thế kỷ 20 được Tổng Thống Ronald Reagan vinh danh qua nhận định : “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom“ (Sự can trường bất khuất của Lý Tống là một biểu tượng và nguồn cảm hứng cho những ai muốn biết cái giá của tự do) ; và được ca tụng bởi những Tờ báo, Tạp chí nổi tiếng nhất thế giới như : Barry Wain của The Wall Street Journal : “Ly Tong is in a class by himself“ và Anthony Paul của Reader’s Digest : “His flight has become one of the great escape saga of our time“....... (Xin đọc thêm các bài tiểu sử của Lý Tống)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s