THƯ VĂN LÝ TỐNG (1)

GALANG TÌNH… XÙ!

 

Galang May 15, 198…

M.T. yêu dấu,

Nhận được thư em, đọc những dòng chữ ân tình tha thiết, một hạnh phúc lạ chợt tràn ngập xâm chiếm những phần cảm xúc sắt đá lạnh giá nhất trong anh, cùng nỗi xót xa bứt rứt không cùng. Thật không ngờ một người con gái đầy kiêu hãnh và tự tin lại mềm yếu và khiêm nhường đến thế.

Mãnh lực mầu nhiệm nào đã chiếm ngự em sau những cơn lốc bão bất ngờ? Anh đến với em như số phận run rủi, như giòng thác lũ sau khúc quành bỗng thấy được khung trời mới lạ diệu kỳ. Những ghềnh đá, giông bão quay đảo đời con nước tám năm phút chốc đã trở thành dĩ vãng mù xa. Những không gian thu hẹp. Những thời gian hối hả. Những cơn bão lửa vội vàng. Ta gặp nhau như ngày mai sắp tận thế, liều thân trong những phút thiên thu. Như có mà như không. Như thật mà như ảo. Nửa ta — nửa tha nhân. Xa lạ và yêu dấu. Ta chẳng cần nói những lời phải nói. Ta chẳng cần nghe những lời muốn nghe. Bởi tuyệt đỉnh tình yêu chỉ cần một hình thức duy nhất để… diễn tả cùng nhau.”

Em yêu.

Em xuất hiện đột ngột như cơn địa chấn và biến nhanh như cơn giông trưa để lại trong ta hạn hán và khao khát. Trên những con đường ta qua tràn đầy vết tích. Trên những rung cảm đê mê đầy những dư âm. Bến tàu, nụ hôn, ánh mắt. Bóng tàu khuất nhỏ dần, nhưng bóng dáng em lồng lộng rực rỡ trong ta. Ta tiếc thời làm con ngựa hoang buông thả nhịp đời trên những cánh đồng xanh mộng mị, mời em lên yên rong ruổi đoạn đường trần. Cuộc sống và vận mạng đã áp đặt trên lưng ta yên cương, giáp sắt. Một ngày đã lâu rồi, tiếng chiêng trống đao thương đã rền vang trong tim ta nhũng lời réo gọi, tiếng gào thét của trận địa sắt máu, bạn thù đã chấn động thần trí ta. Vết thương cuộc chiến còn mưng mủ. Ta đã trở thành con ngựa chiến, với những nhiệm vụ và trọng trách mới. Làm sao vứt bỏ được những tình cảm đằm thắm, những ưu ái của Bạn bè Chiến hữu, của những Đồng bào đang bị đày đọa hãm vây? Một quá khứ đầy gian nan oanh liệt phải được tiếp tục. Ta gặp nhau trên gạch nối của quá khứ và tương lai, trong thời điểm của đình chiến tạm thời. Giai đoạn ngắn bình yên chỉ cho phép con tuấn mã đủ thời gian trui luyện khả năng thiện chiến cho một trận giao tranh đầy hứa hẹn hiểm nghèo.

Em yêu.

Đã từ lâu lắm anh không còn có thói quen sống riêng cho bản thân mình nữa. Cái tên tuổi đó đã trở thành niềm tin, niềm hãnh diện của tập thể tù binh, của những trái tim trẻ tuổi nhiệt thành, của những thị trấn miền duyên hải. Hãy cảm thông và giúp anh đáp ứng hoài bão, không chỉ của một cá nhân, mà của cả một quần chúng. Giây phút rung cảm mềm yếu đã đưa anh những giây phút lao đao. Bản thân anh đã tự khắc kỷ với chính mình. Em phải tự nguyện làm một người y tá độ lượng, tận tụy, băng bó nhũng vết thù trên lưng ngựa chiến, để một ngày bình phạc, anh trở lại trận địa, trả lại mối hận bại trận ngày nào, giải thoát gông cùm xiềng xích trên một dân tộc đọa đày. Ngày xưa, anh vẫn còn độc thân vì không muốn quấn vành khăn tang trên đầu những thiếu phụ trẻ, những đứa bé thơ, vì mỗi đường bay đan bằng những lằn đạn lửa. Ngày nay anh chưa thể phủi tay hưởng thụ cuộc sống cá nhân mình bởi những tình cảm gắn bó thiêng liêng và cao cả. Hãy đóng góp sự hy sinh trong giới hạn người tình, bởi lửa tình của trái tim em cũng là một trong những ngọn lửa nồng nàn nhất sưởi ấm vó ngựa rong ruổi trường chinh. Trong bụi mờ nhân ảnh ngày mai, hình dáng em lặng lẽ thẩn thờ trên những phím cung đàn, trầm lặng cô độc trong bữa tiệc tiễn đưa… những giây phút ngỡ ngàng hốt hoảng và… đắm đuối cuồng nhiệt.

Em yêu.

Em đi để lại cho anh kỷ vật một chiếc dù, mà những cơn mưa lớn anh không còn ướt át lạnh lẽo như những ngày tháng một mình lang thang, những ngày nắng cháy, không đội lửa phơi trần dưới ánh nắng nhiệt đới. Nhưng một chút bụi mưa, một chút hanh nắng, một mảnh trời xanh xuyên qua “khung cửa hẹp” của đỉnh dù sút chỉ, làm anh liên tưởng đến cuộc tình của chúng mình, một cuộc tình tròn mà không vẹn, một hạnh phúc thật trùm phủ nhưng vẫn còn một chút khoảng nhỏ tự do. Nếu em chấp nhận một quan niệm sống thiệt thòi, anh sẽ đến để được bàn tay mầu nhiệm của em xoa dịu làn da dạn dày mưa gió, “charge” cho trái tim anh có thêm nguồn điện nhiệt tình để anh có thêm chất lửa nghị lực, tiếp tục con đường thăm thẳm hiểm nguy của định số.

Anh không trả lời lá thư đầu từ Singapore, bởi vì còn ngại ngần những cơn sốc nổi. Lá thư từ Mỹ chứng tỏ tấm lòng thuần nhất của em. Hãy để tâm hồn lắng xuống khi đọc thư anh. Hãy để một thời gian dài để nhận hiểu những điều anh muốn nói. Có thể em sẽ buồn, sẽ thất vọng. Có thể em sẽ vui và hạnh phúc với hạnh phúc nửa vời, mộng mị.

Đừng viết và trả lời thư anh như nhũng qui ước thông lệ. Hãy viết khi thèm viết như người thợ lặn dưới đáy nước sâu thèm khát được thở, hay nhũng đêm trở giấc lạnh lùng ta nhớ nhau đến xót xa da thịt, nhé em!

LÝ TỐNG

 

THƯ GỬI VQ

Trại Nam Hà, ngày 19-7-1996

VQ, cô bạn nhỏ đáng yêu,

Thư VQ đến , kết thúc thảm kịch đợi chờ. Tâm trạng bất an của chú là một hỗn hợp của sự đồng cảm “nòi tình” và dự cảm tâm lý. Chú lo ngại tác hại thương tổn tình cảm, lòng tin, niềm tự tin, tấm lòng nhiệt tình nếu vì lý do nào đó mà VQ không bao giờ nhận được hồi âm của chú. Tình yêu là một Thú: Thú-Đau-Thương (Painful Pleasure) hay Đau-Thương-Hạnh-Phúc (Pain-Happiness) như bài thơ VQ diễn đạt. Chú sẽ có tội nặng nếu chỉ đem lại cho VQ một nửa, nhất là cái nửa Đau-Thương. Đọc cuốn Ó Đen gần 600 trang, VQ chỉ cần trích vài từ “mắt ruồi lửa,” “diễn tả,” cũng đã nắm được cốt lõi, tinh túy của phần “Kinh Tình Yêu Ó Đen,” cái phần sóng ngầm của đại dương mà anh HN nhận xét: “Chỉ có nhà phân tâm Freud mới lý giải nổi;” ngụ ý cái ẩn ức tình dục (refoulement/ sexual repression hay Oedipus complex) mà đúng ra thường dùng để giải thích hiện tượng ức chế của giới đạo đức như anh HN hay bản năng vs luân thường, chứ không áp dụng cho giới cấp tiến về phạm trù… diễn tả như chú. (Chắc VQ có học những tác phẩm như Oedipus, King Lear trong chương trình cử nhân môn Anh văn?) VQ làm chú ngây ngất với hồi cảm Từ Thức thoát y trên đoạn đường biên giới Thái-Miên, chủ đề hình bìa cuốn Ó Đen. Nếu đã đạt thấu cảm Bá Nha-Tử Kỳ, tại sao phải “mai danh ẩn tích?” Hai năm “lội ngược dòng” giữa phồn hoa đô hội có phải là những cố gắng giãy giụa giữa lằn ranh Mộng-Thực, và 53 ngày “chậm trễ bất đắc dĩ” là giai đoạn nước rút cuối cùng? “Chờ làm người lớn” đâu phải là lớn về thể xác, là phổng phao lên cho vừa vòng tay Không Tặc? Mà lớn lên trong sự chín chắn tư duy, không để con tim mù quáng dành quyền dẫn đạo, hướng cuộc lãng du về bãi biển mơ mộng… lầm lạc vào bãi đá ngầm. Vấn đề “thay bậc đổi ngôi” chú chỉ có thể chiều VQ một nửa. “De facto” thì chúng ta đã… qua những hình thái ẩn dụ, và vì chú tin tưởng rằng Tình Yêu là món quà qúy Thượng Đế thường dành riêng cho tên Hề cưng của Ngài để động viên tinh thần đóng trò tận tụy. Nhưng “De Jure” hoặc nói đúng hơn trên “danh xưng” thì chú phải giữ nguyên tắc. Nguyên tắc quy định rằng: Bất cứ cô bé nào thích chơi ngông nhưng hoặc vì “run” hoặc muốn hành hạ “chú Đạt” mà sử dụng danh xưng “chú” từ đầu, thì suốt đời không được đổi cách xưng hô, ngay cả trong lúc tay chân đang… bắt chuồn chuồn cũng chỉ được phép ú ớ “chú ơi…” mà thôi. (Trong trường hợp người ngoại quốc — người Phi chẳng hạn — còn phải tập ú ớ bằng tiếng Việt nữa.)

VQ, cô bạn nhỏ đáng yêu,

Mỗi tháng chú chỉ được viết thư một lần, tiêu chuẩn một tờ giấy khổ nhỏ.Vì thế ít ai nhận được thư chú ngoài anh HN. Vì thế thư, thơ của chú, VQ có thể gửi cho chị Anh, anh Nhuận… và đặc biệt… Lê Lai để họ được biết tin chú. (Nên kèm theo thư VQ, nếu không họ không hiểu ông khùng nầy nói gì, tại sao!) Có những hạnh phúc không chia sẻ được — như bơi qua biển một mình — nhưng tình cảm, thì trong giới hạn nào đó, có thể chia sẻ bằng những hình thức như tâm sự qua điện thoại, qua thư từ, thơ văn… trừ diễn tả! Trong thế giới của Triết Vương (VQ đọc cuốn Philosopher King chưa?) hay thế giới D… (Dream: Mộng), thế giới của tương lai trong thiên niên kỷ thứ IV, mà thi thoảng đại diện của họ vẫn đến tiếp xúc với chú bằng những phương tiện vượt tốc độ ánh sáng (đi ngược thời gian), thì tình yêu cũng quốc hữu hoá, không còn riêng tư nữa! Ở đây chú không có người đồng cảm để chia sẻ bởi ông hàng xóm của chú (cũng phe ta) quá “đạo đức.” Chỉ nghe chú nhận thư làm quen của một cô bé chỉ bằng ½ tuổi mình, ông ấy đã mỉa mai:

– Hồi nầy ở Việt Nam có phong trào yêu nhau theo số tuổi đảo ngược. Chẳng hạn 51 tuổi thì cặp 15 tuổi, 61 thì 16 … chắc hợp gu ông đấy, ông T. ạ!

Nhớ hôm trả tờ Tạp chí mượn, lại để quên thư VQ trong đó (chú hay kẹp tư VQ trong sách, báo… để khi “hơi bị nhớ” bất tử thì có sẵn để ngấu nghiến), ông ta cự nự:

– Nè ông T. Tôi có hỏi mượn thư tình đâu mà ông gửi cho tôi chi vậy!

Đôi khi lẩm cẩm chú khôi hài nghĩ: Nếu VQ viết thư làm quen lại trúng nhầm ông ấy, chắc chắn ông ta sẽ cho một bài moral về “nam nữ thọ thọ bất thân, công dung ngôn hạnh” không biết con nai vàng của chú sẽ ngơ ngác thế nào! Thế mà có lúc nổi hứng bất tử, ông ta lại kể về thành tích anh chị một thời nghe nổi da gà luôn! Cũng nhờ ông ấy mà chú nhận thức thêm về những thói hư tật xấu bản thân để tự sửa chữa, tự hoàn thiện.

Thanh niên Hà Nội bây giờ có mốt dùng từ “hơi bị…” như: Hơi bị đểu, hơi bị đắt, hơi bị đụng… chú bắt chước làm mấy câu thơ tựa đề: Thời Gian, để chỉ những kẻ hơi bị vật vờ ngày tháng, viết thơ theo hình Sao Chổi:

 

THỜI GIAN         Như Sao Chổi

Vun Vút

Qua Vạn Thiên Hà

Vô Cảm

Và Khi

“Hơi Bị” Đụng

Nhận Thức

Hủy Diệt

(Giống như Sao Chổi đụng vào Sao Hoả vừa qua, và khi con người nhận chân được giá trị của Thời Gian thì cũng là lúc sắp xuống lỗ.)

VQ viết một hơi 3g30, sáng tác 8 trang giấy, “văn như Siêu, Quát vô tiền Hán,” thế mà tự nhận vốn liếng tiếng Việt nghèo nàn làm chú muốn bẻ gãy bút quá. Cứ gửi thử vài bài thơ tiếng Việt hoặc vài đoạn ngắn nhật ký và hình ảnh của 4 giai đoạn: Bắt đầu quen, làm quen, hiện tại, và lúc 15-16 tuổi (cái tuổi lần đầu biết dị, đỏ mặt) để chú “chiêm ngưỡng quá trình nẩy nở, trổ mã về tâm hồn và thể xác…” như đã yêu cầu. Cũng nên tiết lộ chút ít về “thân thế và sự nghiệp” của VQ bởi có hiểu thêm mới dễ “quen thân thêm tí nữa” chứ! (Đừng ngại không ăn ảnh. Như chú trong ảnh trông đẹp… lão vậy, chứ ngoài xấu lắm, xếp li hết rồi!) Có ảnh để khi hơi-bị-nhớ khỏi tưởng tượng nhầm thành Linh Đa Trang Đài hay… bà Năm Sa Đéc thì phiền lắm! Nên hạn chế làm thơ bằng tiếng Anh, tốn tiền trại thuê người dịch để kiểm duyệt. Đọc thư VQ, nhân tiện dịch theo yêu cầu của cán bộ phụ trách, chú ngẫu hứng làm thử 2 bài: 1 bài dịch thơ, 1 bài phóng tác thơ của VQ, để tặng lại, dù chẳng có năng khiếu làm thơ. Bạn bè thường bảo chú chẳng có năng khiếu gì đặc biệt ngoài… diễn tả.

 

 

TÌNH NGOÀI HÀNH TINH 1

(E. T. LOVE)

 

Làm sao diễn tả chất

Cảm xúc tràn ngập hồn

Sâu lắng và ngây ngất?

* * *

 

Người vừa gần, vừa xa

Tưởng chừng tay chạm được

Hoá … ảo ảnh lướt qua.

* * *

Xa cách: Nỗi u sầu

Nhưng tình yêu nặng sâu

Đã thành thú-thương-đau.

* * *

Ước là con chim Nhạn

Sải cánh vượt ngàn trùng

Đem tình xuân đến cùng

* * *

 

“Xa mặt cách lòng,” Ai

Chưa lụy vòng tình ái

Còn ta, ngày càng gần.

* * *

 

Ôi ta quá yêu ai

Mơ được người đáp lại

Để mãi nghe người nói

Để mãi được người nhìn

Bão lửa đời Kinh Kha 11

Đốt tim băng tan chảy

* * *

Đợi ngày người trở về

Trao nụ cười đẫm lệ

Đắm đuối nụ hôn nồng

Nhưng … hình như không thể!

* * *

Người chưa là cuả ta!

Chợt sầu dâng buồn lạ

Thầm nhủ lòng, an ủi

Biết ra sao, ngày sau!

* * *

Chỉ cần người trở lại

Ướt mơ thành hiện thực

Tình ta mãi không phai

Dẫu người chưa nhận thức.

VQ

 

TÌNH NGOÀI HÀNH TINH 2

(E. T. LOVE)

 

Em dùng tia Laser thay dao

Mổ trái tim mình không đau 1

Banh te he chờ người kiểm nghiệm

Từ hang sâu, khe hẹp, mép cao.

* * *

Người lạn gần rồi vụt bay xa

Em tập trung cao xạ, ra đa

Pháo cấp tập quyết hạ (chàng) giặc lái

Hụt, vui — buồn, mất hút (chiếc) Mirage. 2

* * *

 

 

 

Gõ đũa thần em biến Chim Ưng 3

Vượt nghìn trùng thẳng hướng phi trường

Đợi Don-Juan-vô-tình cất cánh

Kamikaze (cùng chàng) nát như tương 4

* * *

Ai bảo “xa mặt cách lòng” đó

Là kẻ chưa nếm mùi dồi chó

Với “cầy tơ” chỉ ngửi, chưa ngó (thấy)

Nước dãi… tình càng ngày càng rỏ.

* * *

Yêu người, em lệnh người yêu lại

Kệ tay người (quơ quào), miệng người lải nhải

Chỉ cần đóng đèn … mắt ruồi lửa 5

Là trái tim xèo xèo tan chảy.

* * *

 

Mộng ngày người chống gậy trở về 6

Em đón chờ, nụ cười đẫm lệ

Khóc ướt hết quần xì áo xú 7

Phô (thân) hình sexy cho người mê (chơi)8

* * *

 

 

 

 

 

Ăn nhằm gì (chuyện) em – chàng: người lạ

“Ướt mơ” xưa sắp thành (sự) thật nhá! 9

Tuổi 25 vừa (vòng) tay Không Tặc

Tuyệt đỉnh tình yêu cần… diễn tả! 10

LÝ TỐNG

Ghi chú:

1 Bởi vì em là y sĩ

2 Tên máy bay cuả Pháp, cũng là một thứ “ảo ảnh” như chàng: Vui –> Buồn.

3 “Mắt Chim Ưng” chưa đủ.

4 Nhiều tai nạn xảy ra do nhiều chim tụ tập ở phi trường, đụng vào kính buồng lái hoặc     động cơ máy bay, nên Chim Ưng được sử dụng để đuổi chim.

5 Mắt chàng có ruồi có lửa nên chàng nhìn vào đâu em thấy nhột nhạt như bị ruồi bâu, và nóng ran như bị lửa đốt.

6 16 năm nữa mãn hạn tù chắc chàng dư tuổi lãnh tiền già.

7 Quần xì líp, áo xú chiêng.

8 Thơ 7 chữ nên những chữ thừa, dùng làm rõ nghiã, được đặt trong ngoặc ( ).

9 “Ướt mơ”: Wet dream; ước mơ: Dream.

10 Bởi tuyệt đỉnh tình yêu chỉ cần một hình thức duy nhất để… diễn tả cùng nhau.

11 Đọc “Rượu Tiễn Ó Đen” của Nguyễn Lập Đông.

Bài thơ của VQ chú đặt tên E.T. LOVE . E.T. là tên phim về “người ngoài hành tinh,” hơn nữa chữ E nếu lấy 2 gạch (=) phần trên ra thành chữ L, đem xuống thành dấu = (bằng). Như vậy E = L hay E.T. = L. T. hay E.T.LOVE = L.T. LOVE.

Đúng là ngôn ngữ cũng có định mệnh! Chữ “bird” (chim) thường dùng để diễn đạt sự thoát ly, tự do hơn là tìm sự ràng buộc; chưa kể chim chóc bây giờ cũng muốn biến thành hoả tiễn, phi thuyền để bay nhanh hơn, xa hơn. Nếu VQ ước thành gà (hen) có vẻ hợp tình, hợp cảnh hơn. Ở đây trước kia chú có nuôi một cô gà mái có đôi mắt và lông xám màu áo lam giống ni cô thường bắt cóc tặng chú trong tù A.30, nên được chú đặt tên Ni Cô. Từ ngày ông hàng xóm biến khu biệt giam thành “trại gà” làm mất khung cảnh tĩnh lặng, thơ mộng, nên Ni Cô xuất hồn giã biệt. Từ đó chú không nuôi gà nữa. Nếu có một cô gà có “mắt chim ưng” do VQ hoá thân chắc mình có dịp gần nhau tâm sự mỗi ngày!

Bài thơ của VQ đúng 36 câu (trente-six modes: 36 kiểu), một ngẫu nhiên vô tình hay chủ ý? Trời miền Bắc đang vào mùa nóng (mùa nóng từ tháng 5-10; lạnh 11-4, riêng lạnh có lúc dưới 4,5 độ C). Mùa nóng cũng là mùa mưa. Mưa là do trời đổ mồ hôi để giải nhiệt (cho ổng và cho mình), nên mưa càng lớn, càng mát. Suốt mùa nóng có lúc trên 40 độ C, ngày đêm chú ăn mặc theo phong cách người tiền sử. Trời đang nóng mà đọc đoạn kết bốc lửa của VQ làm thân nhiệt tăng tốc đột ngột, vã ướt (wet) xối xả như vòi rồng.

Chú thèm “diễn tả” quá!

LÝ TỐNG

 

TRONG NHỮNG RUNG CẢM MÙA XUÂN

 

Như có một ma lực hấp dẫn, như có tiếng kêu gọi từ cõi siêu hình, tôi không cưỡng được phải lên đường lang thang. Đêm cuối năm, cái thời điểm giữa cũ-mới, giũa cằn cỗi-thanh xuân có sức thu hút kỳ lạ. Tôi rời nhà bỏ đi một minh khi mọi người trở về quần tụ chung quanh bếp lửa gia đình. Sự cô độc, đơn lẻ, xót xa từng phần xúc cảm. Cái hạnh phúc lạc lõng, tự bỏ rơi âm ỷ gặm nhấm tận cùng tâm thức. Tôi tung ném những đồng bạc cuối cùng không tiêu xài kịp. Tôi độc hành giữa đường trường vắng lạnh hun hút nửa đêm. Tiếng nhịp chân lạc loài như điệu nhạc đơn điệu trầm trầm văng vẳng âm hưởng đời sống đã xa.

Đêm yên lặng mầu nhiệm bỗng bừng nở những tràng pháo rung chuyển dồn dã. Nỗi rộn ràng run rẩy của phút Giao thừa vỡ oà. Tôi tìm thấy từng xác pháo đỏ phần máu thịt xác thân mình tan tác. Trong từng ánh chớp lòa điện quang những cảm nhận mới lạ lóe sáng. Vũ trụ và con người giao hoan trong cơn cuồng lũ cảm giác. Rồi đêm, cái đêm trinh nguyên của một ngày đầu năm mới vừa dâng hiến chìm đắm trong khoái lạc mệt mỏi đằm thắm.

Tết và tôi luôn luôn là những cảm xúc riêng biệt không chia sẻ, bởi vì niềm vui bất chợt quí báu chỉ biến hiện trong những giờ phút ngắn ngủi phù phiếm, dù thời thơ ấu chung sống với gia đình hay ngày lớn khôn, luôn luôn biệt lập một mình.

Huế, tuổi học trò, xe đạp, lọc cọc, An Cựu, Gia Hội, bờ sông Hương Giang đêm thanh vắng huyền thoại, Bến Ngự, Từ Đàm mài miệt dốc cao.

Cần Thơ, xe Honda, từ giã người tình đường Bình Thủy hun hút mù mê. Phan Rang, một mình, đỉnh đôi chơ vơ lộng gió. Đêm phi trường chập chờn lung linh, đồng vọng tiếng sóng biển Ninh Chữ dạt dào.

Những ngày cuốỉ năm hối hả, những ngày đầu xuân nhàn tản rong chơi, mỗi ngày với tôi đều có một đời sống riêng của nó. Cuộc sống vui buồn độc lập không bị ảnh hưởng bởi không khí ồ ạt của từng cảnh sắc.

Mùa xuân 1975, khi kẻ thù hoàn toàn xâm lược miền Nam, thẳng tay tước đoạt tất cả nhũng gì thuộc về quyền sống của con người, sự tuyệt vọng, cùng khổ làm tàn úa những màu xanh, thui chột niềm hy vọng rực rỡ của mùa xuân. Cảnh tù đày, phân ly làm tan tác những cuộc họp mặt gia đình. Có chăng là những bánh chưng, dưa món, trong khả năng hạn hẹp, cố gắng tồn tại để giữ hương vị và ý nghĩa của ngày Tết hằng năm. Tết đã trở thành nỗi kinh hoàng, cơn ác mộng bởi vì Tết nhắc nhở những ngày hạnh phúc đã mù xa. Tết cứa sâu lưỡi dao vào vết thương nỗi đau buồn hiện tại. Đời sống muốn bơi ngược dòng nguồn nước để níu kéo, bám víu âm hưởng kỷ niệm, dư hương của thuở hoàng kim, nhưng dòng thác lũ tàn bạo ồ ạt cuốn phăng đi những tàn lực cuối cùng. Trong cảnh gông cùm, đoàn tù binh mòn mỏi giữa tuyệt lộ. Thời gian căng trải những ước mơ trên cọc sắt, kẽm gai làm khô héo những tâm hồn thơ mộng, làm mềm nhũn, mục nát những niềm hăm hở tuổi trẻ từng ngày tháng qua.

Từ chiều ba mươi đến trưa mồng hai, hai ngày nghỉ như một ân huệ hiếm hoi trong một xã hội mà cuộc tranh sống không chỉ đối kháng với thiên nhiên mà đối tượng chính là giai cấp cai trị mới. Những miếng thịt, những món ăn quí hiếm trong hoàn cảnh đói khát làm con người tạm quên trong giây phút niềm đau riêng, những nhớ nhung không cùng. Khi thời điểm quan trọng linh thiêng sắp đến, khi những người bạn tù khôn khổ đang than thở, thổn thức hồi tưởng bầu không khí rộn ràng đầm ấm cuối năm, tôi lại bỏ đi tìm hạnh phúc riêng rẽ bất diệt. Tôi rời xa những ngọn đèn đầu tù mù, chụm bóng những mái đầu mệt mỏi chia sẻ sự trống trải, ưu tư qua những mẩu chuyện ngày cũ, những vóc dáng lặng lẽ buồn bã nằm cô đơn thương nhớ mái ấm gia đình thân thương.

Sự quản thúc hạn chế những bước chân, nhưng sự quản thúc không ngăn cản được cái tự do độc lập trong tâm hồn. Tôi tìm một

gốc sân vắng, dưới tàn cây, ngả mình nằm ngắm bầu trời mộng mị. Thực tại khốn khổ không còn chỗ nương thân dung chứa trong nỗi hạnh phúc bất hủ ngàn đời. Sống và hạnh phúc trong nỗi cảm thông riêng rẽ với thiên nhiên, trong sự tách biệt với những quan điểm thường tình, hoàn cảnh chỉ còn là một yếu tố mờ nhạt không đủ bề thế chi phối một đời sống. Trại tù Lam Sơn, con đường khuya lẻ bóng giữa hai hàng liễu hiu hắt âm thầm. Nhà tù 52, 53 đêm rừng xa, trên bờ dốc, chìm đắm trong tiếng suối nước róc rách tỉ tê.

Đêm tù A30, đèn nê ông sáng rực, tiếng đàn cuốn hút dồn dập của đêm văn nghệ không xô dạt được những lời thì thầm của ngàn hoa nội cỏ. Đêm ba mươi Tết vượt rừng biên giới Thái Miên, những họng súng truy kích rượt đuổi, nhũng bãi mìn rình rập từng ngõ ngách âm u, không làm ngập ngừng bước chân trên muôn dặm hành trình cô độc. Đây đó, những thân cây khô rực cháy như những cây đuốc vĩ đại thắp sáng lẻ loi cánh rừng bí hiểm tối tăm. Chim đêm buông tiếng kêu thảng thốt, thất đảm nửa vời. Từ đêm tối ta tìm về ánh sáng. Từ ngục tù ta rong bước thênh thang.

Mùa xuân. Như biển vẫn rền vang sóng vỗ muôn đời. Như vũ trụ vẫn bốn mùa tuần hoàn luân chuyển. Như hoa bướm vẫn rực rỡ hội hoa đăng. Như thân cây vẫn cựa mình từ đám rừng cháy cũ, nhựa sống tuôn trào thành những mầm lộc mùa xuân, ta vẫn một mình hạnh ngộ chờ đón giây phút lột xác của đất trời trong cuộc trăn trở hồi sinh.

LÝ TỐNG

 

 

NHỮNG NGÀY SINH NHẬT

 

Một thời rất xa xưa, một hôm trở về nhà tôi bảo Mẹ:

— Nhà trường bắt học sinh làm giấy khai sinh.

Mẹ tôi nhíu mày suy nghĩ, rồi bỗng quay sang Dì tôi hỏi:

— Cháu nó sinh ngày mấy Chị nhớ không?

— Mồng một tháng chín. Dì tôi nhanh nhẩu trả lời.

Đó là lần đầu tiên tôi biết ngày sinh của mình và cũng là lần đầu tiên, tôi nhận ra rằng, trong gia đình mình có hai thiên tài trí nhớ. Bà Dì tôi chẳng học hành bao nhiêu, nhưng đặc biệt bà có thể nhớ hầu hết ngày sinh tháng đẻ của những người trong làng, từ già đến bé, cũng như tất cả những biến cố đã xảy ra quanh vùng hàng chục năm qua. Bà Chị tôi lại chuyên về địa hạt khác: “Những bức thư tình.

Không chỉ những năm tháng còn yêu đương mơ mộng mà Chị có thể thuộc lòng gần trăm bức thư của người mình yêu, mấy chục năm sau, khi người Chồng đã hy sinh ngoài mặt trận, một lần gặp lại, tôi đã phải mất hết một đêm để ngồi nghe Chị ấy lần lượt đọc lại những bức thư từ ngày mới làm quen, đến những bức thư ngỏ lời cưới Chị. Chị ngồi lặng lẽ trước ban công, mắt mơ màng nhìn trời đêm. Hình như nhũng vì sao đã kết thành chữ nghĩa và bầu trời là những trang thư, nên Chị đọc lại không quên một chữ, không sót một dấu chấm than!

Có phải vì luật quân bình mà Thượng đế muốn san sẻ công bằng cho từng đơn vị gia tộc, hay vì số phận mỗi con người có một vị trí và chức năng khác nhau mà tôi chịu thiệt thòi về phần trí nhớ? Tôi khó nhớ những chuyện mới và dễ quên những chuyện cũ. Bởi thế tôi chẳng giận ai lâu, chẳng thương ai sâu đậm. Tôi quên mặt những người đã từng làm phiền, làm buồn lòng mình những ngày năm cũ, và quên tên những người tình đã từng mặn nồng ngày xưa. Cái “trí quên” làm tôi bối rổỉ mỗi lần gặp một người vồn vã chào hỏi mình một cách thân tình. Ngay chính Hạnh, người tình mà kỷ niệm suốt đời vẫn còn tươi mát, thế mà ngày vượt ngục trốn về Sài Gòn, cô bé tìm tôi, tôi cũng ngơ ngẩn một lúc lâu mới nhận ra nàng.

Cái mà tôi thường quên nhất là ngày sinh nhật của mình. Có nhiều năm tôi không hề nhớ ngày sinh nhật. Có nhiều năm tôi sực nhớ sau khi sinh nhật đã qua đi vài tháng. Phải chăng mỗi ngày đều là ngày sinh, là ngày tử, mỗi ngày phải xông pha lửa đạn, mà nhũng cảm giác mạnh, những cảm giác nghẹt thở đã làm mờ nhạt đi cái ngày sinh bình thường của con người? Nếu phải làm lễ sinh nhật, chắc hẳn mỗi năm tôi phải tổ chức đủ ba trăm sáu mươi lăm ngày, bởi vì mỗi ngày đều có một giá trị nổi bật, đặc biệt mà chính tự bản thân mình đã hồi sinh hoặc tái sinh. Những ngày vượt ngục hiểm nghèo, những ngày ngang nhiên đứng thách thức trước mũi súng kẻ thù, những ngày tháng chạy dưới lằn đạn truy kích của nhũng tên Lính biên phòng, những ngày tình nguyện đảm nhận nhũng Phi vụ tử thần… Ôi biết bao nhiêu ngày tháng dồn dập nóng bỏng, mà chỉ khi đã thực sự bước xuống máy bay, những lúc thực sự vượt ra khỏi vòng kẽm gai ngục tù, hay đã nằm thu mình trong những góc rừng rậm, kín… tôi mới cảm nhận được bản thân mình còn sống sót. Vâng, những ngày đó còn quan trọng, đáng kỷ niệm hơn ngày cất tiếng khóc chào đời.

Thế mà từ ngày tôi bị bắn rơi, nhảy dù và bị giam cầm qua các Nhà tù Cộng sản, bỗng nhiên tôi có dịp để nhớ đến ngày sinh của mình một cách cụ thể. Chuyện đó thật dễ hiểu. Bởi vì ngày Cộng khánh (Quốc khánh Việt cộng) nhằm vào 2 tháng 9 và tôi sinh ngày 1 tháng 9. Đã ở tù Cộng sản, không ai không nhớ ngày 2 tháng 9. Người tù nhớ ngày Cộng khánh chỉ vì một lý do duy nhất: Ngoài ngày Tết, đây là ngày thứ hai trong năm được ăn no và ăn ngon miệng.

Và tôi cứ cho rằng, những heo bò chuẩn bị cho tù ăn ngày 2 tháng 9 chính là tiệc sinh nhật của tôi đãi bạn tù và cũng chính vì tôi sinh 1 ngày trước ngày sinh của Nhà Cầm quyền Cộng sản Việt Nam, nên tôi tự xem mình thuộc “cấp Đại ca” của VC và thường chọn ngày 1 tháng 9 để đột nhập Phi trường đánh cướp máy bay. Không gì hạnh phúc bằng sinh và tử cùng ngày và không ngày nào thích hợp bằng ngày 2 tháng 9 bởi vì tôi có thể cướp những máy bay chuẩn bị phi diễn Cộng khánh.

Năm 1983, lần đầu tiên trong đời, tôi được ăn lễ sinh nhật mình một cách trang trọng. Tôi “được ăn” bởi vì tôi không đứng ra tổ chức và mời bạn bè mình, trái lại, một người lạ, một người Phụ nữ Mỹ đã tình nguyên tổ chức lễ sinh nhật của tôi và mời bạn bè bà đến dự tại Boston. Ở Trại Tị nạn Galang, Indonesia, tôi nhận được nhiều thư gửi từ Mỹ. Nhiều Presidents của các Hãng, Công ty, Nhà băng gởi thư chúc mừng, tình nguyện bảo trợ và offer job. Trong số đó, có bà Nancy, người mời tôi, nếu có dịp đến Boston, ghé thăm gia đình bà ấy.

Năm 1983, tôi rời Galang qua Singapore, rồi từ Singapore đi máy bay qua Mỹ. Điều kỳ lạ là phi cơ bay qua vùng không phận Việt Nam đúng vào giờ tôi sinh ra đời: Một giờ sáng ngày 1 tháng 9. Ba mươi mấy năm lưu lạc, vào sinh ra tử, tù tội, vượt ngục, đúng ngày và giờ sinh của mình, tôi được thấy lại Quê hương mình để rồi biệt xứ không biết ngày về. Tôi như nghe văng vẳng tiếng khóc oe oe của mình khi vừa lọt lòng Mẹ, và tôi có cảm tưởng như mình vừa lại được sinh ra, và bắt đầu một cuộc đời mới, một nhiệm vụ mới.

Mỹ Quốc nằm cách Việt Nam một ngày kinh tuyến, vì thế sau khi thay đổi nhiều chuyến máy bay tôi xuống phi trường Boston lại đúng vào Một giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 1983. Thượng Đế đã dàn xếp thời giờ một cách tài tình để tôi vừa ở trên vùng trời quê hương mình đúng ngày, giờ sinh, và để tôi đặt chân xuống quê hương tạm dung thứ hai này cũng đúng ngày giờ sinh của mình.

Tôi đi một đoạn đường khá xa, đầy rắc rối, phức tạp và kiếm ra nhà bà, một gian nhà ở tách biệt hẳn giữa những rừng cây, giữa những đồi cỏ mượt mà. Bà so sánh đoạn đường từ Allston đến Boston nhà bà với Long trek to freedom của tôi từ Việt Nam đến Singapore.

— Người đi bộ một mình qua năm quổc gia có khác.

Bà Nancy vừa mừng rỡ vừa khen ngợi và vội vã gọi điện thoại thông báo cho Chồng, thông báo cho Bạn bè, Hàng xóm và vội vã chuẩn bị tổ chức một Lễ Sinh nhật linh đình bất ngờ khi nghe tôi nói:

—   Today is my birthday!

Tám giờ tối, nhà tấp nập khách. Tôi nhận quà tặng, đáp lại lời chúc mừng, và hát Happy Birthday to Ly Tong cùng mọi người. Tôi ăn sinh nhật đúng tiêu chuẩn của Mỹ và nhảy Disco, New Wave cùng các cô đầm Mỹ.

Mấy tháng sau, tôi rời Massachusetts đi về New York, Washington D.C., Texas, California, rồi cuối cùng tạm dừng chân tại New Orleans. Ngày xưa làm Quản lý Câu Lạc bộ Sĩ quan Không quân Phan Rang, tôi thừa phương tiện tổ chức sinh nhật mình, nhưng mê mải với những Phi vụ tử thần, tôi đã quên thủ tục thông thường đó. Giờ đây làm Quản lý China Nite Club, bạn bè khách khứa đến chơi đông, và tôi lại nhớ rõ ngày sinh nhật, thế mà tôi lại quyết định sinh nhật năm nầy tôi chỉ tiếp đãi một khách duy nhất: Tên trộm cướp Mỹ đen.

Tôi vừa sực nhớ tên Mỹ đen đã bị tôi bắn chết và tôi quyết định dứt khoát như vậy. Tôi sai cô bé Mỹ trắng nữ đệ tử đi mua hai bánh Big Mac. Sau khi đóng cửa Nite Club, tôi đem bánh cùng mền ngủ qua China Mall. Tôi đến chỗ cửa sổ kính đã ba lần bị đập bể, nơi tên Mỹ đen đập phá để chun vào và sau khi lãnh một viên đạn ngay tim, y vùng chạy trở ra và gục chết tại đó. Tôi để hai bánh trên bàn nhỏ, ngồi tại chỗ y nằm chết, nhắm mắt khấn nguyện:

—   Hôm nay là ngày sinh nhật của anh. Chú mày là khách duy nhất được anh mời tham dự và chiêu đãi. Giờ này anh đúng ba mươi sáu tuổi và chú mày chết gần được hai tháng. Chú mày chết là lỗi của chú mày. Giờ nầy anh đề nghị với chú mày hai điều. Nếu chú mày còn oán hận anh, tối nay anh sẽ ngủ tại đây, chú mày cứ hiện hồn lên bóp cổ anh, hoặc chú mày xui khiến một tên nào đó đột nhập vào đây để trả thù cho chú mày. Còn nếu chú mày đã biết lỗi, muốn cải tà quy chánh, chú mày hãy theo anh, phù hộ anh trong công tác Trừ gian Diệt bạo. Ngoài ra chú mày muốn yêu cầu gì, tối nay cứ báo mộng cho anh biết.

Tôi cầm bánh Big Mac lên, mời y một cái và tôi ăn cùng y một cái. Xong, tôi tắt đèn, nằm ngay trên tấm thảm nơi hai tháng trước, thân xác đồ sộ đẫm máu đã quằn quại trút hơi thở cuôì cùng. Tôi nằm một mình với một hồn ma giữa một Chinatown rộng mênh mông, không bóng người đang đắm chìm trong bóng đêm bí ẩn.

Đang mơ màng, tôi bỗng giật mình vì tiếng động mạnh, rung chuyển cả nền nhà. Tôi ngồi phắt dậy, định thần nghe ngóng. Thì ra cái freezer, sau thời gian ngừng nghỉ, bỗng tự động mở máy chạy lại để giữ điều hòa độ đông lạnh. Máy đã cũ nên mỗi lần depart phải quẫy mạnh như một kẻ đang bị bóp cổ, nghẹt thở, vùng vẫy để thoát khỏi gọng kềm đang siết chặt. Tôi mắt nhắm, mắt mở, vào restroom đi tiểu, vừa mở cửa, bỗng hai bóng người từ trước mặt và bên trái xông về phía tôi. Tôi giật mình đứng sững lại. Thì ra phòng lady restroom gắn nhiều kính, ban đêm không người, tôi tiện đường đi vào. Vì lần đầu tiên, nên thót giật mình khi thấy bóng mình trong các gương bất thình lình hiện ra. Đúng là thần hồn nhát thần tính. Tôi tự giễu mình:

—   Cỡ toa mà cũng sợ ma hở Lý Tống?

Vâng, một kẻ đã từng ngủ những nơi, trong những trường hợp khủng khiếp như tôi, mà đêm nay, tại đây, cũng còn có lúc giật mình vì những chuyện lẩm cẩm. Tôi đã từng bị nhốt trong nhà kỷ luật, chân cùm, tay trói, nằm sấp, tên vệ binh gác dí mũi súng gắn lưỡi lê vào tôi, rà cái mũi nhọn hoắt, lạnh tanh đó từ cổ lên tới mặt, gáy, trong lúc miệng gầm gừ rên rỉ với nỗi khát khao của một con thú đói mồi:

—   Tao thèm đâm mày một dao, tao thèm lóc thịt mày, tao thèm bằm mày từng khúc. Tao thèm…

Cái tiếng “tao thèm” rền rền như một điệp khúc, ru tôi vào một giấc ngủ tự nhiên bình thản, quên hẳn y và chiếc lưỡi lê giết người.

Hay những đêm lạc lõng một mình trong rừng sâu, bốn bề tăm tối, giữa tiếng vượn hú, cọp gầm. Những tiếng tru gào ma quái, rầm rì, rầm rì cuối cùng chỉ có tác dụng dỗ cho tôi một giấc ngủ say vùi.

Giờ đây, tôi nằm đây, ngay trên chỗ cái xác ngoại khổ hơn 300 lbs của Bố trẻ teenager đã chết dưới viên đạn của mình nằm, mùi máu khô như còn ngây ngây phảng phất, dáng dấp co quắp trong chiếc áo trắng đỏ loang màu máu còn hiển hiện trước mắt. Cảm giác kinh rợn này không giống như những cảm giác kinh rợn đã qua. Nhưng những cảm giác rờn rợn đó đã bị nghị lực và sự trui luyện qua nhiều ngày tháng thắng lướt… Vâng, tôi phải tập luyện để làm chủ bản thân mình. Tập chế ngự những cơn sợ hãi. Tập bình thản trước sự hiểm nguy. Tập từ khước những tiện nghi và chấp nhận gian khổ. Tập hạnh phúc trong những chuẩn bị hy sinh để giữ gìn khí tiết, danh dự. Tập chiến đấu và chiến thắng địch thủ trong cả những giấc mơ… và tập ngủ thản nhiên giữa nhũng mồ ma nghĩa địa, giữa những oan hồn xác chết là một công trình tập luyện trường kỳ đầy nỗ lực.

Đang say ngủ, tôi giật mình vì một tiếng thét lớn. Tôi dụi mắt, ngồi dậy nhìn quanh. Anh chàng thợ quay thịt buổi sáng vào sớm, đi ngang qua cái chỗ mà mỗi lần đi qua, anh ta đều rón rén hồi hộp, vì hình ảnh xác chết của tên Mỹ đen còn gây ấn tượng sâu đậm, và bởi vì anh đã nằm mơ thấy y nhiều lần trong những cơn ác mộng. Giờ nầy bỗng nhiên tại chỗ đó lại có một bóng người đang nằm, anh ta ngỡ là xác chết hiện về.

Tôi cười lớn, trấn tỉnh anh ta:

— Tôi đây mà, làm gì mà cuống cuồng lên thế?

Vâng. Thế cũng xong một ngày sinh nhật. Tôi tự hỏi, không biết trong tương lai, mình sẽ làm gì cho những ngày sinh nhật. Tôi nghĩ đến ngày mình sẽ tổ chức sinh nhật và tôi chợt buồn. Vâng! Tôi sẽ buồn biết bao, nếu một ngày nào đó, cơn lốc của thế giới máy móc nầy sẽ nhận chìm mình vào cuộc sống tầm thường vô vị, và ngày tháng chẳng còn gì hào hứng sôi nổi, và tôi rồi sẽ phải nhớ, rồi sẽ phải tổ chức sinh nhật của mình, như để tìm một chút vui thú nhạt nhẽo trong nhũng ngày tháng nhạt nhẽo vô vị của kiếp tha hương.

LÝ TỐNG

 

image001.jpgimage003.jpg

 

 

LỜI KÊU GỌI TRỪ GIAN DIỆT BẠO CỦA LÝ TỐNG

 

Phải chăng đã đến lúc chúng ta phải có một tổ chức để chống lại tội ác trong Cộng đồng Tỵ nạn Việt Nam? Một câu hỏi được nhiều người đặt ra, được nhiều báo chí đề cập, được nhiều giới quan tâm, nhưng vẫn còn trong hình thức phôi thai của một câu hỏi. Bởi từ câu hỏi đến câu giải đáp, từ giải đáp đến hành động là một quá trình phức tạp và rắc rối. Nếu chống lại tội ác đem lại lợi nhuận và địa vị, chắc chắn đã có nhiều Tổ chức cạnh tranh nhau để chiếm độc quyền.

Chống tội ác chỉ có đương đầu với nguy hiểm. Và tài sản, tính mạng của kẻ chủ trương luôn luôn đặt trong tình trạng báo động. Sự buộc tội cho hoàn cảnh sinh ra và nuôi dưỡng tội ác không hoàn toàn đúng. Hoàn cảnh cũng chỉ là một yếu tố, bởi vì trong cùng một bối cảnh chiến tranh, trong cùng một cơ cấu xã hội, và ngay cả trong cùng một huyết thống, mỗi cá nhân vẫn có một đường hướng sinh hoạt khác nhau.

Tội ác chính thực do từ bản chất bẩm sinh của một số cá nhân. Có người sinh ra bản tính độc ác. Từ bản tính, xã hội sẽ kềm chế hoặc phát triển bản chất của họ. Nhiệm vụ của Nhà Luân lý là hướng dẫn cá nhân theo hướng Chân-Thiện-Mỹ. Nhiệm vụ của luật pháp là ngăn chận tội ác để bảo đảm trật tự và ổn định. Những tên tội phạm trong Cộng đồng Tỵ nạn Việt Nam, số lớn tuổi đã từng là tội phạm tại Việt Nam, hoặc công khai, hoặc kín, số trẻ tuổi lớn lên tại Mỹ, tự phát triển ác tính để thỏa mãn nhu cầu bệnh hoạn. Chúng ta không có tham vọng thay thế các viên chức hành xử luật pháp Hoa Kỳ để ngăn chận tội ác, nhưng chúng ta có nhiệm vụ đóng góp một phần tích cực để lành mạnh hóa Cộng đồng Việt Nam.

Nước mất nhà tan, rời bỏ Quê hương Đất nước để sống kiếp tha phương, lưu vong, điều đó đã là một nỗi đau lớn. Hàng triệu Đồng bào đang quằn quại dưới ách cai trị độc tài của bọn quỷ đỏ, là một ám ảnh không nguôi, ước mơ giải phóng quê hương chưa thực hiện được. Sư bình yên của cuôc sống tự do tam bơ nơi quê người đang bị lung lay. Ảnh hưởng tội ác không chỉ mở cửa cho những luồng dư luận đả kích, kỳ thị tại Mỹ Quốc, mà chính ngay bản thân của mỗi người, mỗi gia đình cũng đang bị đe dọa trầm trọng… Sự thất bại lớn nhất là Cộng đồng lớn rộng, gồm nhiều thành phần ưu tú lại đầu hàng trước thiểu số bọn bất lương. Hàng trăm ngàn người không đối phó nổi vài chục con người xấu, vài chục loài sâu bọ? Phải đoàn kết lại. Phải tích cực góp tay vì chính bản thân ta, vì chính quyền lợi của Cộng đồng để tiễu trừ bọn bất lương. Trước khi thực hiện công cuộc Cứu quốc, Phục quốc vĩ đại, ta phải thực tập tham chiến chống bọn gây tội ác trong Cộng đồng Tỵ nạn tại Hải ngoại.

Hệ thống An ninh Cảnh sát tại Mỹ không yếu, không bất lực trước sự hoành hành của tội ác, nhưng là vì một quốc gia tôn trọng tự do nhân quyền, Nhà Chức trách cần có bằng cớ rõ ràng trước khi buộc tội. Không hợp tác tích cực chúng ta đã trực tiếp đồng lõa nuôi dưỡng áp lực khủng bố để rồi trở thành chính nạn nhân của nó. Một người khó chống lại cả nhóm bất lương. Phải có một Tổ chức lớn mạnh với sự hậu thuẫn của Quần chúng. Muốn thành lập một Tổ chức có thực lực và đủ uy tín, phải có sự góp tay của mọi người.

Giới trí thức sẽ cố vấn chỉ đạo trong các đường lối, kế hoạch chung. Một lực lượng hành động gồm các Cựu Quân nhân, các Thanh niên tình nguyện, các võ đường huấn luyện võ thuật, và đặc biệt những anh em giang hồ có tinh thần mã thượng mệnh danh là những Hiệp sĩ Thời đại, trực tiếp có nhiệm vụ bảo vệ, truy tầm và ngăn chận tội ác. Báo chí là phương tiện truyền thông và cổ động, vạch mặt chỉ tên những tay đầu sỏ có thành tích để Quần chúng theo dõi.

Một khi đã có Tổ chức mạnh, những nạn nhân của tội ác, đặc biệt giới thương mãi sẽ có đủ tin tưởng và can đảm thông báo cho Tổ chức về các hoạt động tội ác. Và biện pháp hợp pháp là tìm đủ các dữ kiện buộc tội để thông báo cho Nhà Chức trách địa phương. Và trong trường hợp “chẳng đặng đừng” Tổ chức phải áp dụng “biện pháp mạnh” đối với thành phần bất trị, nguy hiểm. Tổ chức chống tội ác phải được thành hình khắp các Tiểu bang có sự hiện diện của Cộng đồng Tỵ nạn Việt Nam và có sự liên kết chặt chẽ theo một đường lối thống nhất.

Để tổ chức sớm thành hình, tôi tình nguyện làm Hội viên, và kêu gọi tất cả các bạn, anh Chị em, tích cực tình nguyện góp tay xây dựng Tổ chức. Gần sáu năm trong Nhà tù Cộng sản, trước áp lục của mũi súng kẻ thù, tôi vẫn “không quỳ,” không khuất phục và vẫn còn sống sót.

Hơn một năm trong Nhà tù Thái Lan, sau những biện pháp đe dọa trừng trị dã man của những tên Cai ngục dữ tợn nhất, tôi vẫn còn sống và giữ được khí tiết.

Gần chín năm chỉ biết tù tội và vượt ngục trên nhiều quốc gia, thà chết trong tù, trong rừng hơn đến Mỹ Quốc để chỉ mong bịt mắt, ngậm miệng và yên thân.

Nếu vì chống tội ác để giữ Danh dự cho Cộng đồng Việt Nam mà phải hy sinh bởi tay của những người anh em Đồng hương cùng dòng máu, nhưng không cùng chí hướng thì đó cũng là một cách chết hữu ích nên xả thân.

Đã đến lúc chúng ta phải tích cực góp tay để sớm có một Tổ chức bài trừ tội ác.

LÝ TỐNG

 

TƯỜNG TRÌNH TỪ NEW ORLEANS

 

Tôi gặp Lý Tống ngay sau khi nhận được cú phone từ người bạn cho biết Lý Tống đã hạ sát một tên trộm cướp tại Chinatown. Lúc đó, đêm đang trở mình để bắt đầu một ngày mới.

Tôi đến Chinatown, Khu phố Tàu hình như vùa chợp mắt. Bên ngoài cũng vẫn những đường nét kiến trúc mang đầy sắc thái Đông phương, công trinh điêu khắc cổ kính đã được bàn tay tài hoa của họa sĩ Phạm Thăng nhào nặn khiến khách qua lại thường buột miệng khen ngợi không ngớt. Đêm nay, tôi gặp Lý Tống cũng ở khung cảnh cũ, dưới những nét kiến trúc rực rỡ tại phố Tàu New Orleans. Lý Tống ngồi đó, trên chiếc ghế cao của gian hàng bán đồ biển, đang bình thản nhả những vòng khói thuốc và trả lời những câu thẩm vấn của nhân viên công quyền. Đó đây, Cảnh sát đang chụp hình, lập biên bản. Nhân viên Cứu thương đã chực sẵn để mang xác nạn nhân đi. Một vài Phóng viên ngoại quốc săn tin khuya đã có mặt và làm những câu phỏng vấn thường lệ. Những ống kính của các Đài Truyền hình đã mở kích độ để thu những cảnh tượng sống động cho chương trình phát hình sớm.

Trong cái bầu không khí hỗn tạp của phạm trường, một người đàn ông lách mình ra khỏi hàng rào của Cảnh sát tiến tới trước mặt Lý Tống và đưa bàn tay chắc nịch siết mạnh bàn tay của Lý Tống:

— Bạn yên tâm, có chúng tôi đây.

Người ấy quay lưng lại, tôi bắt gặp gương mặt quen thuộc của Chủ nhân Hộp đêm Chinatown, anh Trương Sĩ Lương. Cảnh tượng ấy diễn ra như một pha xi nê mà tôi vẫn thường trông thấy hằng ngày. Tiếp theo đó, một Nhân viên Công lực tiến đến với chiếc còng màu bạc mang nhãn hiệu USA đưa vào hai cánh tay của Lý Tống. Đại tá Ân, Chủ nhân Chinatown nhìn Lý Tống bảo:

— Đó chỉ là thủ tục. Chú mày không bị gì đâu.

Lý Tống điểm một nụ cười nhẹ:

— Tám năm ở tù Cộng sản, tôi quen cùm kẹp rồi, Sư phọ khỏi

lo.

Nhưng ngay sau đó một người Đàn ông mặc bộ đồ complet màu xám tro tiến lại ra lệnh cho người vừa còng Lý Tống mở còng cho anh. Người Nhân viên cự nự như chưa thỏa mãn và xem như đó là nhiệm vụ giữ trật tự an ninh của mình. Người Đàn ông trong bộ xám tro hơi giận và xẳng giọng:

— Anh biết tôi là ai và từ đâu đến không?

Lúc bấy giờ, người Nhân viên mới dịu giọng, trố mắt nhìn kẻ vừa ra lệnh cho mình và lật đật mở khóa còng trên tay Lý Tống. Người Đàn ông gật gù chỉ vào Lý Tống và nói với nhân viên công lực:

— Anh này không có tội, chúng ta chưa được quyền bắt.

Cuộc điều tra liền được tiếp tục dưới sự điều khiển của người Đàn ông trong bộ đồ xám tro. Đến bây giờ, mọi người mới biết ông ta mang một chức vụ khá lớn trong Ban Điều tra và Mật vụ tại New Orleans. Người ta lại hỏi, Lý Tống vẫn giọng đều đều kể lại từng diễn biến mà anh đã đối điện khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ trước: — Tôi đang nằm ngủ trên chiếc ghế xếp bên cạnh chiếc radio để nghe với mục đích trau dồi thêm tiếng Anh. Có lẽ hơi mệt, tôi thiếp ngủ sớm hơn thường lệ. Vừa chợp mắt được một lúc, tôi bỗng giựt mình vùng dậy vì tiếng vỡ loảng xoảng, chát chúa của tấm kiếng vỡ. Tôi dụi mắt, đôi mắt cay xè như không muôn mở ra. Trong bóng đêm đen đặc của Chinatown Mall, tôi chợt phát hiện một thân hình đồ sộ xuất hiện ở cửa sổ kính phía hông gian nhà. Đèn đường le lói sáng nên vóc dáng kẻ vừa đột nhập vào nổi bật lên như một con quỷ dữ vừa đội mồ chun lên. Và sau lưng y, ba bốn tên đồng bọn đang lăm le chun vào qua khung kiếng vỡ. Tôi chụp lấy khẩu súng sẵn, bắn một phát chỉ thiên để cảnh cáo. Nghe tiếng súng, tên tội phạm bỗng nhào về phía tôi định bắn trả hoặc đâm tôi. Tôi lánh mình nấp về phía bức tường và bóp cò lần thứ nhì. Tiếng súng gầm chát chúa như muốn nổ tung cả Chinatown Mall. Tên tội phạm quay người lại và phóng mình chạy như bay về phía cửa sổ vỡ kính. Tôi tưởng mình bắn trật nên quay vào trong, bật đèn sáng lên rồi ôm súng rượt theo. Tôi chợt khựng lại khi thấy tên tội phạm đã nằm soài tại cửa sổ, máu đỏ đẫm hết chiếc áo màu trắng. Và những tên đồng bọn bên ngoài đang kéo y ra để lấy vũ khí trong người y trước khi kịp rút lui chạy thoát thân. Tôi chạy vào bếp. Tiếng cười nói của nhân viên Chinatown Imperial Restaurant vẫn dòn dã đây đó. Tiếng máy lạnh và các máy điện khác của nhà bếp đã bưng bít được những tiếng nổ kinh hoàng của loại súng săn và họ không hề hay biết cảnh tượng rùng rợn vừa xảy ra sau lưng họ không đầy hai mươi mét. Khi nghe tự sự, đám nhân viên hoảng hồn chạy tán loạn và lo gọi điện thoại cấp báo…

 

CON ĐƯỜNG NGẮN NHẤT

 

Tôi gặp Dương Ngọc Cư lần đầu tiên năm 1981 trong thời gian tôi vượt ngục ẩn trốn tại Sài Gòn. Một bữa bà cụ của Vân nhắn cháu Lan:

— Chú cháu mầy hết gạo nấu cơm, vậy chiều nay qua nhà, bác đãi ăn bún bò.

Hai ba ngày cầm hơi bằng cháo loãng, tôi hí hửng đến nhà Vân chuẩn bị ăn một bữa đền bù mấy ngày đói khát. Ngoài ba cô gái, nhà Vân bữa đó lại có thêm một người khách lạ. Chàng khách trẻ đứng dậy bắt tay tôi trọ trẹ giọng Huế:

— Em là Cư. Nghe nhiều người kể chuyện về anh bữa này mới hân hạnh được gặp.

Chuyện giữa tôi và Cư đậm đà và kéo dài nhờ nồi bún bò quá ngon và quá lớn. Mỗi chàng khách làm tù tì liền năm tô quên cả mắc cỡ với các cô bé chủ nhà. Cư cho biết đang đi dạy kèm Anh văn và tìm đường vượt biên. Dân Huế gặp nhau nên cũng có nhiều kỷ niệm chung để nhắc, hơn nữa sống bất hợp pháp dưới Chế độ Quản lý nghiêm nhặt của Cộng sản nên càng có thêm nhiều đề tài để hàn huyên.

Sau bữa ăn, Dương Ngọc Cư dạm hỏi tôi:

— Em biết một ông Thầy bói giỏi lắm, đoán chuyện như thần. Nếu anh muốn, anh em mình đón xích lô đi gặp ông ta. Em còn đủ tiền trả tiền xe và tiền Thầy.

Tôi thì ít tin dị đoan, nhưng từ ngày đột nhiên có tới năm Thầy bói cùng đoán rằng ba năm sau tôi sẽ gặp một đại nạn kinh khủng có thể chết bất đắc kỳ tử, hoặc nếu may thì thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Quả nhiên năm 1975, đúng ba năm sau, phi cơ tôi bị trúng một quả tiễn SA7 đứt làm đôi, tôi nhảy dù, và bị giam cầm gần sáu năm đến ngày vượt ngục thoát khỏi trại tù A.30 tại Phú Khánh.

Đang dự trù kế hoạch đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất đánh cướp máy bay, ném bom gây bạo động và nổi dậy, tiện thể, tôi muốn thử xem ông Thầy có đoán ra ý định của mình không, và nếu thực hiện có thành công không, nên tôi đồng ý đi với Dương Ngọc Cư. Ông thầy quả thật là Quỷ Cốc Tiên Sinh, bởi vì những gì xảy ra trong mấy năm sau hoàn toàn phù hợp với những lời ông tiên đoán. Sau lần coi bói, tôi còn gặp Cư thêm ba lần, toàn do bất ngờ, và có dịp hàn huyên tâm sự chuyện hiện tại, tương lai tại các quán cóc cà phê trên các vỉa hè Sài Gòn.

Bẵng chừng bốn năm, khoảng đầu năm 1985, tôi đột nhiên nhận được thư Dương Ngọc Cư nhờ nhà báo chuyển. Cư cho biết đã vượt biên và tị nạn tại Gia Nã Đại, và gần đây đã xin được định cư tại California. Ngại lâu ngày tôi quên, Cư nhắc lại một vài chuyện cũ và hỏi:

— Anh còn nhớ thằng em kết nghĩa của anh không?

Tôi viết thư từ New Orleans thăm Cư và nhắc lại lời ông Thầy bói tại Sài Gòn đã nói về bàn tay đặc biệt của Cư:

— Chú em có bàn tay nhọn nên trở lực nào cũng đâm thủng được.

Cư mới xin làm việc cho anh Đức Chủ chợ Viễn Đông. Mặc dù lương không đủ xài vẫn dành dụm tiền mua vé máy bay mời tôi qua chơi. Và tôi đã ở nhà của Dương Ngọc Cư và Trần Văn Bé Tư trong thời gian nghỉ học bốn ngày. Tôi đến nhà buổi chiều nhưng đến sáng ngày hôm sau mới gặp Bé Tư. Khả năng làm việc và tinh thần tích cực hăng say của Bé Tư vượt hẳn cái vóc dáng nhỏ, gầy ốm, và khuôn mặt hiền nhưng rắn rỏi của một chàng Giáo viên tỉnh nhỏ. Trần Văn Bé Tư đêm mò mẩm từ đường này đến hẻm nọ đi bỏ báo cho tờ Los Angeles Times, ngày lúi húi lo việc công quả, góp tay góp sức phục vụ Cộng đồng và Kháng chiến.

Bốn ngày ngắn ngủi, nhưng có nhiều chuyện để trao đổi bàn bạc. Tôi cảm động khi hiểu được tấm lòng của anh em, những người trẻ tuổi sẵn sàng đem hết nhiệt huyết và nghị lực để phục vụ Đất nước và Đồng bào. Và tôi cảm động vì tình cảm và sự tin cậy mà anh em dành cho mình.

Tôi trở lại News Orleans tiếp tục chương trình học tập. Mấy tháng sau nhân dịp nghỉ hè ngắn hạn, anh em lại gởi vé máy bay qua cho tôi. Lần này, sự lường gạt và bất tín của một số người được anh em tin tưởng đã làm anh em bất mãn và buồn bực. Tôi khuyên giải và an ủi. Tôi khuyến khích anh em dồn nỗ lực mình vào những mục đích, những đối tượng mới. Có những người khác rất nhiệt tình, tích cực, sau biến cố này lẳng lặng rút lui, phủi tay từ khước mọi sự tham gia, hoạt động. Trần Văn Bé Tư và Dương Ngọc Cư, trái lại, vẫn nhiệt tình lăn xả vào trận chiến đấu mới để thực hiện hoài bão của tuổi trẻ trong những hoàn cảnh và điều kiện mới.

Tôi trở lại Cali trong một dịp khác để coi sóc việc dịch cuốn sách của mình, trong đó Dương Ngọc Cư phụ trách dịch phần từ Việt sang Anh văn và một người phụ nữ Mỹ bạn phụ trách viết lại theo hành văn Mỹ. Lần này vì cần nhiều thì giờ để đọc bản dịch, thay đổi và sửa chữa, tôi đã ở tạm nhà một người bạn khác, vì thế chỉ ghé thăm anh em được một lần. Tôi linh cảm hình như có chuyện quan trọng anh em muốn tâm sự, nhưng vì thời gian hạn chế và bận bịu, tôi phải trở lại New Orleans. Niềm ân hận lớn nhất là tôi được tin về anh em muộn sau cả những kẻ bàng quan nhất. Tôi gọi điện thoại cho anh Thuận để chỉ được nghe một vài chi tiết vắn tắt và lời kết luận:

— Có rỗi hãy bay qua đây. Nói chuyện điện thoại dài dòng không tiện.

Tôi về Cali đúng lúc phiên tòa họp. Phiên nhóm không quan trọng nên chỉ có vài người bạn và Chị Minh Đức Hoài Trinh tham dự. Phải nhìn kỹ mới nhận ra Trần Vãn Bé Tư và Dương Ngọc Cư trong bộ đồ màu vàng đồng phục tù lụng thụng sau các song sắt bên góc mặt của Phòng Xử án. Tôi đi vào hàng ghế gần sát lồng sắt ngồi xuống vẫy tay chào Bé Tư và Cư. Tôi đến để nhìn và ngưỡng mộ các người bạn trẻ và đồng thời động viên tinh thần anh em. Các bạn đã thực hiện điều tôi đang dự định, những anh em khác đang dự định, và tất cả những ai đã từng sống, và bị đày đọa trong Ngục tù Cộng sản đều nghĩ và muốn thực hiện.

Mỹ Quốc tiên tiến, thượng tôn pháp luật, nhưng luật pháp nước Mỹ còn có nhiều khe hở cho bọn thù địch lợi dụng phá hoại Dân chủ, phá hoại Tự do, phá hoại Cộng đồng, chúng ta tôn trọng luật pháp nhưng cũng sẵn sàng chĩa nòng súng vào các tên răng đen mã tấu ngu dốt đần độn, dăm ba tên trí thức chồn lùi cam thân

chạy theo Chủ nghĩa Vô thần. Ta chỉ cần dăm ba tay súng, vài tấm lòng là có thể nhổ cỏ tận gổc. Chỉ những ai chưa từng sống trong Ngục tù Cộng sản, chưa từng một lần chạm mặt thử thách với Cộng sản, mới sợ hãi Cộng sản. Có người sợ hãi Cộng sản vì thơ ngây, vì ấu trĩ, nhưng cũng có kẻ lợi dụng sự thơ ngây ấu trĩ để dùng “ông ba bị” Cộng sản cho những mưu đồ riêng.

Cộng sản đang ở trong thời kỳ mạt vận. Một Hồ Chí Minh đã chết. Một Lê Duẩn đã chết. Một Trường Chinh, một Phạm Văn Đồng… đang chống gậy khập khểnh trên đoạn đường tăm tối cuối cùng đi về nghĩa địa. Thế hệ kế tục đang chia bè kết phái trong trận chiến quyết liệt để tranh giành Quyền Lãnh đạo. Ta phải nắm lấy thời cơ. Một mặt ở nước ngoài phải diệt sạch hết mầm mống bọn Cộng sản nằm vùng cùng tay sai, một mặt trong nước hô hào Đồng bào đứng dậy, tay dao tay búa xuống đường, chắc chắn hầu hết các Cán binh Cộng sản sẽ qui chánh đầu hàng, thiểu số còn lại sẽ bị tiêu diệt tại từng Phường đội, Phường Công an.

Để đạt được mục đích tối hậu đó, thế hệ trẻ của chúng ta không những chỉ vinh danh những tấm gương của Trần Văn Bé Tư và Dương Ngọc Cư mà còn noi theo con đường của hai người bạn trẻ, thực sự dấn thân để phục vụ Tổ quốc và Dân tộc.

LÝ TỐNG

15-8-1986

 

 

NGƯỜI VÊ TỪ CÕI CHẾT

 

Sáng thứ bảy, một thanh niên chạy thể dục trên đường đê, chợt phát hiện trong khu rừng lân cận một sự kiện lạ:

— Một chiếc xe hơi nằm lạc lõng sau các bờ bụi rậm rạp đang ngút khói, những giải khói vật vờ như hơi thở một người gần chết thoi thóp nhịp sắp tàn.

Anh ta vội báo Cảnh sát về vụ giết người bí ẩn khả nghi. Không lâu một xe cảnh sát xuất hiện. Nhân viên công lực bàng hoàng trước khung cảnh kinh rợn:

— Một xác người bị trói ké bằng xích sắt, thân thể cháy đen lở lói vì vết phỏng nặng sau khi bị tưới xăng và đốt cháy.

Một bàn tay chuyên nghiệp đặt vào mũi và tim để xác nhận tình trạng của nạn nhân:

— Chưa chết, còn đang hấp hối.

Phải chạy đua với tử thần để tìm ra manh mối, Viên Cảnh sát vội vã áp miệng vào tai nạn nhân hỏi gọn:

— Sát nhân là người Việt hay Mỹ?

Miệng nạn nhân mấp máy, những bọt máu ứa đọng suốt đêm phập phèo qua hơi phều phào đứt đoạn không thành tiếng. Tiếng hỏi bỗng càng khẩn thiết:

— Việt Nam hả?

Cái đầu rung nhẹ để ra dấu:

— Đúng.

Như ngọn bấc cạn dầu, nạn nhân đã tranh đấu với tử thần suốt đêm chờ dịp duy nhất đó để tiết lộ kẻ đã âm mưu giết mình. Nỗi uất hờn đã giúp nạn nhân phấn đấu toàn lực đến đó là hết, rồi gục xuống.

Bí mật tưởng sẽ muôn đời giữ kín vì nạn nhân đã chết. Nhưng sống chết vẫn có số, và quy luật nhân quả vẫn còn hữu hiệu. Ngoài những nguồn tin không chính thức cho rằng Chu Văn Hùng đã được âm thầm đưa đi chôn cất tại một tiểu bang khác, lại có tin đồn vụ án Chu Văn Hùng chỉ là một sản phẩm tưởng tượng, Chu Văn Hùng đã đi Pháp với hồ sơ về công trình xây cất làng Vina. Sống hay chết? Tình? Tiền? Cạnh tranh nghề nghiệp? Bao nhiêu câu hỏi, nghi vấn đang dồn dập thổi phồng khắp nơi. Ai giết Chu Văn Hùng? Một con người hiền lành hòa nhã với mọi người, một con người tận tụy với những ích lợi chung. Chính kẻ ở gần với những thẩm quyền nhất cũng chỉ đoán lờ mờ vì tin tức cần được giữ kín trăm phần trăm cho cuộc điều tra khẩn cấp và qui mô.

Thế rồi, bỗng nhiên cách đây vài hôm, Chu Văn Hùng chợt xuất hiện về đêm tại China Town. Mái tóc ngắn vừa mọc lại sau thời gian nằm bệnh viện, khuôn mặt mập, tròn trinh như một chú bé ngộ nghĩnh bởi vì làn da phỏng cháy vừa được đắp lại bằng lối giải phẫu thẩm mỹ hiện đại. Chu Văn Hùng bắt tay tôi, hai bàn tay anh bám víu tay tôi thật chặt, vồn vã như người bạn quá thân lâu ngày mới gặp. Vâng, thời gian đã trở thành nghìn thu cho những giây phút kinh hoàng của một đời người. Chu Văn Hùng đã trở lại đây bằng con đường dài nhất thế kỷ:

— Từ cõi chết trở lại trần gian!

Chu Văn Hùng đang ngồi thuật chuyện cho Viên Thám tử điều tra bổ túc. Anh có ý muốn trở lại thăm làng Vina ngay đêm đó. Tôi chuẩn bị súng ống để đưa Hùng đi về nơi đầy hiểm họa và đe dọa đó, đi trong đêm tối đầy bất trắc rình rập, không chỉ để thỏa mãn khao khát của một người mà sự khao khát sống, sự khao khát nhìn ngắm lại công trình tim óc, máu và nước mắt của mình đã vượt qua những khao khát bình thường của những con người bình thường, mà còn chính vì sự khao khát của bản thân tôi, sự khao khát của một sinh lực tràn trề, sẵn sàng hăm hở cho những thử thách hiểm nguy vì Công lý.

Trong đôi mắt vàng võ đó còn in rõ hình ảnh kinh hoàng của một đêm định mệnh đời mình. Cái đêm thứ Sáu sẽ mãi mãi ám ảnh đời anh.

Một cú điện thoại gọi mời Hùng đi họp. Anh lên đường như có một sự huyền bí nào xúi dục, dù thời gian đó Hùng đã trở nên cẩn thận hơn vì những đe dọa vô hình, vì nhứng nghi ngại không duyên cớ vẫn lởn vởn trong đầu anh. Ớ xứ Mỹ, khi con người đang có một dự tính lớn, một business béo bở, thì sinh mạng của con người như đang đặt dưói giá treo cổ, bởi vì sự tự do và sự lạm dụng tự do quá trớn tại Mỹ đã mở cửa rộng cho những tên tội phạm hoành hành. Hùng đến địa điểm hẹn, dừng xe lại bên đường. Ba người đàn ông đang chờ đợi trong bóng tối lờ mờ của đêm. Anh quay kiếng xuống, thò đầu ra tính nói chuyện với người hẹn mình. Bàn tay của kẻ đứng gần nhất có dáng dấp nhỏ thó, bỗng nhanh như cắt, chụp vào mặt anh một chiếc khăn tẩm thuốc mê. Liền sau đó kẻ lạ mặt đẩy anh qua một bên và ngồi vào ghế tài xế. Một người khác thân hình hộ pháp mở cửa ngồi vào ghế sau và tên thứ ba lên một xe khác chạy theo.

Chu Văn Hùng dù đang mơ màng trong cơn mê chập chờn vẫn còn cảm nhận được những gì xảy ra quanh mình. Con đường ngoằn ngoèo như vô tận và cuối cùng anh giật mình tỉnh lại bởi dòng nước lạnh của can xăng tạt vào người. Hùng bị trói, cửa kiếng quay kín và khóa lại. Hộp quẹt bật lên và ngọn lửa man rợ bùng lên cuồng dại. Làm sao diễn tả nỗi đau đớn ghê hồn của con người đang bị giết bằng một hành vi man rợ và tàn ác như vậy. Anh quằn quại, lăn lộn và bất tỉnh dần vì gan ruột da thịt đang bị nung cháy rừng rực bởi ngọn lửa oan nghiệt. Vì sự ngột ngạt thiếu dưỡng khí trầm trọng trong chiếc xe khóa kín mù mịt khói lửa. Nỗi đau đớn đó âm ỉ suốt đêm. Cái lạnh của đêm, cái lạnh của sự kinh hoàng tận xương tủy, cái lạnh ào ào kéo đến khi cái nóng hừng hực của lửa xăng nung chín đốt cháy thân người vừa chấm dứt.

Thiên bất dung gian. Bọn gian ác giết người đã toan tính quá kỹ lưỡng,quá cẩn thận mà đã thành ra sơ hở vì thiếu khoa học. Lửa cháy thiếu dưỡng khí phải bị tắt. Cửa đóng kín tưởng để đóng kín miên viễn sự bí mật tàn ác đó lại là cánh cửa dập tắt nỗi hân hoan thỏa mãn thú vật của bọn mặt nguời dạ thú.

Chu Văn Hùng đã trở về. Câu chào hỏi thốt ra như còn vướng vất sự huyền nhiệm của định mệnh:

— Không ngờ còn sống để gặp lại anh em.

Vâng, anh vẫn còn sống. Chu Văn Hùng đã trở về từ cõi chết. Kẻ tưởng đã chết vẫn còn sống, và bọn người tưởng mình sẽ sống, sẽ còn ngang nhiên gieo tai họa và tội ác cho những người hiền

lương bỗng nhiên hốt hoảng thấy mình đang ngồi gần chiếc ghế điện đền tội.

Luật pháp của Hoa Kỳ, kỹ thuật điều tra hiện đại nhất thế giới sẽ không dung tha những tên tội phạm. Và dù cho chiếc lưới nhện của nền Công lý Hoa Kỳ có để lọt con ruồi độc địa kia, thì hình thù tội ác của những con vật ghê tởm cũng không thoát khỏi lương tâm của loài người. Nỗi căm giận của lương tâm Công lý sẽ bùng lên như một khối thuốc nổ, và kẻ hiền lương, nhân ái nhất cũng phải nghĩ đến chuyện cầm súng để Trừ Gian Diệt Bạo.

PHI CÔNG “DỞM” LÝ TỐNG

Có Chiến hữu từng nói:

Không quân nào không biết Lý Tống là Không quân ‘dởm.’

Tù nào không biết Lý Tống là tù ‘dởm.'”

Điều nầy không quá đáng. Thí dụ:

  1. Không Quân: Điều chắc chắn là tất cả khóa đàn anh còn ở TTHLKQ/ Nha Trang hay đang được huấn luyện tại Mỹ cùng thời năm 1966 đều phải theo dõi vụ LT hành hung Cán bộ và bị sa thải, chưa kể 2 Tư Lệnh KQ Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Minh và tất cả Trưởng Phòng Bộ Tư Lệnh. Với các Khóa đàn em đây chuyện “hot” nhất. Có lần ngồi đợi tại Phòng Thặng số, tôi nghe 1 nhóm SVSQ đang làm thủ tục du học đứng gần đang tranh nhau kể chuyện về Niên trưởng Lý Tống. Nghe thiên hạ kể “Huyền thoại Lý Tống” trước mặt mình cũng thú vị, nhất là họ cố tô màu hoặc thêm thắt nhiều điều hấp dẫn để chứng tỏ mình biết nhiều chuyện độc đáo hơn. Cuối cùng tôi đứng dậy hỏi họ: “Các anh có ai từng gặp mặt ông Niên trưởng Lý Tống chưa?” Mọi người đều lắc đầu và tôi chỉ vào bảng tên đang đeo trên túi áo: “Tôi là Lý Tống!” Ai cũng ngỡ ngàng và mừng rỡ “Hân hạnh bắt tay Niên trưởng!
  2. Nhà Tù: Những ai đã từng ở các Trại tù cùng thời hay sau LT như Cảnh sát Đặc biệt Nha Trang, Lam Sơn, 52, 53, A30 (1975-1981), Khám Chí Hòa, Xuân Phước, Ba Sao (1992-1998), Rayong, Klong Prem-Dan1, Remand, Thái Lan (2000-2007) đều biết “vua quậy” LT. Khám Chí Hòa là nơi khó biết nhau nhất vì có 8 khu, suốt ngày đêm tù bị nhốt trong phòng không tiếp xúc nhau, đặc biệt Khu Tử hình nhốt LT chỉ toàn phòng nhỏ, mỗi phòng nhốt riêng một hay vài người. Ở đây có tay anh chị “ngầu” nhất là “Phúc buồi” (mở miệng là chửi “đồ buồi”). Tất cả “Đại Bàng” đều phải thu thuế tù rồi đóng cho bố già này. Phúc buồi phòng cạnh tôi từng tâm sự: “Em từng giết 4 Bộ đội, 4 Công an và 2 người dân. Nhưng so với Đại ca từng giết hơn 50 ngàn VC, từng không tặc Airbus với cả 200 hành khách… thì em xin cúi mình chào thua.” Bởi vậy ban đêm, Phúc và đàn em các phòng 1, 2, 3… đều lần lượt gào lớn: “Phòng 1… chúc Ngài Không tặc đêm nay ngủ ngon, mơ nhiều gái đẹp, sớm trở thành… Tông Tông nghe khôôôông!” Cứ sau lời chúc của mỗi phòng, tôi lại dộng chân xuống nền nhà 3 tiếng và đáp “Ừ, Ừ, Ừ!” Tiếng rống của họ vang dội khắp các khu vì Khám Chí Hòa xây theo hình bát giác, kín cổng cao tường.

Tại các Trại Tị nạn, không thiếu người giả “Tù cải tạo” bằng cách đem theo áo quần tù mua chợ trời làm bằng chứng. Bằng chứng chắc ăn nhất là khai ở cùng Trại tù với Lý Tống. Bởi vậy Cao ủy LHQ thỉnh thoảng vẫn kêu tôi lên nhờ xác minh. Toàn bộ tù mỗi Trại biết tôi nhưng tôi chỉ biết số người cùng Tổ, cùng Đội nên khi họ khai ở nhà tù A30 chẳng hạn, tôi sẽ hỏi: “Ở A30 nhà bếp, bệnh xá, nhà cùm, khu nữ, khu mộc… ở đâu?” và một số chuyện đặc thù của từng nhà tù mà những người tù “dởm” không thể nào trả lời đúng. Vì sợ VC cho “gài” người đi vượt biên, tôi phải thận trọng. Và khi tôi xác nhận đúng, họ sẽ được Cao ủy Tị nạn chấp nhận.

Vậy mà thỉnh thoảng vẫn có kẻ “thắc mắc” nầy nọ, cho rằng Lý Tống không phải Phi công hay LT không bị sa thải vì lý do kỷ luật. Người đặt vấn đề đầu tiên là Quang X. Pham, một cựu Sĩ quan Thủy quân Lục chiến và Phi công Mỹ, đã từng bay tham chiến trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1 và tại Somalia. Ông Quang còn là tác giả cuốn: “A Sense of Duty: My Father, My American Journey” (Random House, 2005) và thân sinh của ông là một Tr/Tá QLVNCH bị VC cầm tù 12 năm.

Ông Quang nghĩ “trên đời chỉ có mình và bố mình mới là thứ thiệt còn mọi người đều giả cả” nên đặt nghi vấn về tính thực-giả của Lý Tống dựa trên 2 điểm:

– Cánh bay Lý Tống mang không thuộc Không Quân QLVNCH.

– Theo sự sưu tra thông suốt mọi tài liệu lịch sử và phỏng vấn hàng chục cựu Chiến binh của ông Quang, không hề có Phi công bay A37 bị VC bắn hạ tên Lý Tống!

Thay vì “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” ông ta phổ biến bài “lật tẩy” năm 2008 mặc dù từ năm 1983, 1984 đã có hằng chục tờ báo khắp thế giới đăng về Lý Tống, kể cả những báo có tầm cỡ thế giới như Reader’s Digest, The New York Times, The Wall Street Journal… và Tổng thống Ronald Reagan đã viết thư ca ngợi: “Cuộc vượt ngục táo bạo thoát khỏi các nhà tù Việt Nam và Cam Bốt  của Lý Tống thực sự là một huyền thoại… Sự can đảm của Lý Tống là một tấm gương và nguồn cảm hứng cho tất cả ai muốn biết cái giá của tự do.”

Mặc dù năm 2002, Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, trong Hồi ức TRẬN PHAN RANG đã viết: “Ngày 8.4.1975… bắt sống tại đèo Du Long 7 xe tiếp tế thuộc đoàn hậu cần địch cùng một số quân lính VC, vì ngở Phan Rang đã bị chúng chiếm, nên cứ ngang nhiên di chuyển. Đồng thời, tìm thấy bộ đồ bay của Trung úy Lý Tống, thuộc Không đoàn 92 Chiến thuật/ Sư đoàn 6 Không quân, còn để tại vùng đèo Du Long, khi phi cơ A-37 của mình vừa bị bắn rơi, lúc cùng phi đội oanh tạc khu Vườn Dừa.” Sợ nhầm với LT nào khác, Chuẩn Tướng Sang còn ghi thêm: “Trung úy Lý Tống là người đã thả truyền đơn chống cộng tại Saigon năm 1992, tại Cuba trong năm 2000 và tại Saigon cuối năm 2000, nhân dịp Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam.”

Thật xui cho Mr. Quang, ngay sau đó lại có nhiều nhân chứng có uy tín xác nhận LT là ai, trong đó Trung Tá Nguyễn Quốc Hưng, Sĩ Quan Liên Lạc KQ tại căn cứ Lackland, xác nhận “Lý Tống hành hung cán bộ có thương tích” và chính mình đã cùng Thiếu tướng H. K. O’Nooley, Chỉ Huy Trưởng trường Huấn luyện Sinh Ngữ Lackland AFB, San Antonio, Texas, ký lệnh sa thải LT về VN và ra khỏi Không Quân. Đào Bá Hùng, cựu Thiếu Tá Hoa tiêu Trực thăng, cựu Tổng Hội Trưởng THKL/VNCH, người cùng Khóa 65A KQ và du học Hoa Kỳ đồng thời với LT xác nhận Cựu Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân Trần Văn Minh từng giải thích cho Hùng lý do tại sao Lý Tống không được cố vấn Hoa Kỳ chấp thuận cho qua Mỹ du học lần thứ hai khi trở lại Không Quân năm 68. (Các Trưởng phòng Bộ Tự lệnh đều ký Thuận theo gợi ý của Tr/Tướng Minh nhưng Cố vấn Mỹ từ chối vì Tr/úy Lộc, do thù oán cá nhân, báo cho Tr/Tá Ngọc, Trưởng phòng Du học, vụ LT bị kỷ luật, đuổi về VN trong chuyến du học năm 1966.)

(Nếu nhớ không lầm, TrungTướng Minh từng đến nhà Tr/Tá Khôi, Phi Đoàn Trưởng PĐ 548 thăm khi nghe LT đang ở chơi nhà sếp cũ.)

Không chỉ duy nhất một (1) “chuyện khó tin nhưng có thật” là bị sa thải kỷ luật lại được nhận trở lại Không Quân, tôi có thể liệt kê một số chuyện “khó tin có thật” khác về LT như:

  1. Người duy nhất vượt biên đường bộ đến Singapore sau khi bơi qua eo biển Johor Strait.
  2. Người duy nhất bị 2 án Không tặc.
  3. Người duy nhất nhảy dù qua cửa sổ phòng lái Airbus.
  4. Người duy nhất mà 9 Phi vụ + vụ Vượt biên đều được báo chí và truyền thông Mỹ, thế giới tường trình. (Quý vị nào muốn có Sách và DVD sưu tập tất cả bài báo, phóng sự của Truyền thông Mỹ hãy gửi thư về địa chỉ: Lý Tống 1990 Uphall Ct., San Jose, CA 95121 và Cell: 408-644.0467)
  5. Người duy nhất từng Tuyệt thực 7 lần, từ 1 đến 3 tháng.
  6. Người duy nhất từng vượt ngục 6 lần.
  7. Người duy nhất có Tôn giáo riêng: Thượng Đế hay God và có chữ ký là “Lạy Thượng Đế” thay vì tên mình Lý Tống như mọi người.
  8. Người Phi công duy nhất bị Hỏa tiễn SA-7 tầm nhiệt bắn vỡ nát máy bay còn sống.
  9. Người Phi công duy nhất bắn anti-tank rockets quá thấp bị mảnh rocket và đá cục văng trúng phi cơ mấy chục lỗ vẫn bay về đáp an toàn dù phi cơ sau đó phế thải vì bất khiển dụng.
  10. Người duy nhất được báo chí gọi và đặt gần 20 Danh hiệu gồm:

(1) Black Eagle (2) Resistance Icon (3) Mr. Impossible (4) Leaflet Cowboy (5) James Bond (6) Papillon (7) Don Quixote (8) Top Gun (9) “Ike” Eisenhower (10) International Father (11) Freedom Fighter (12) Hero [The Last Action Hero, American Hero, Binational Hero, Folk Hero, War Hero, Tragic Hero] (13) Robin Hood (14) Mr. Franklin (chỉ xài tiền mệnh giá $100 MK) (15) Hijacker và (16) Terrorist.

Chỉ thiếu việc Guinness đăng: “LT là người break all world records!‘”

Tôi có trả lời Quang X. Pham, giải thích việc mang cánh bay Hải quân Mỹ vì tôi thuộc Nhóm học bay tại Căn cứ Hải quân Pensacola, Florida, và cánh bay đó do Tr/Tá Hải quân Mỹ gốc Việt Lê Hưng trao tặng trong một buổi lễ. (Đúng ra trên bộ đồ bay của tôi, ngoài huy hiệu Không Quân VNCH là đúng, còn tất cả logo Phi đoàn, Không đoàn… đều của Mỹ tôi chọn vì đẹp và hợp “goût moi!”) Còn vụ “bị VC bắn hạ” thì hãy liên lạc với các Sếp và bạn cùng Phi đoàn đang ở tại San Jose như Tr/Tá Trần Mạnh Khôi, PĐ Trưởng, Th/Tá Nguyễn Tiến Xương, Trưởng phòng An phi, Đ/Úy Nguyễn Bảy, Trưởng phòng Huấn luyện, Th/Úy Phạm Hữu Nghĩa…

Vậy mà năm 2013, ĐQC lại thắc mắc về Tiểu sử Lý Tống với những câu thắc mắc ngớ ngẩn, vớ vẩn đã có người nêu lên nhiều năm về trước. Đúng là: Thương nhau củ ấu cũng tròn. Ghét nhau quả bồ hòn cũng méo!”

Như quý Thân hữu đã biết, LT sau khi lên đường gia nhập Không Quân, không hề trở lại Huế, và do sống độc thân nên tất cả giấy tờ, hình ảnh, tài liệu… liên quan đến bản thân đều bị mất sạch sau khi bị bắn rơi, bị bắt vì VC khi chiếm Căn Cứ Phan Rang đã tiêu hủy hoặc tịch thu tất cả. Vậy mà giờ phút nầy LT vẫn có một số hình ảnh cũ của mình nhờ chụp chung với các Chiến hữu hay với bạn học cùng lớp gửi tặng.

  1. Hình Ảnh Cũ Thời Việt Nam. (Lý Tống được đánh dấu X.)
  2. Hình Lớp Nhì Trường Tiểu Học An Cựu do cô giáo Bạch Vân gửi tặng (LT mũi tên đỏ).

 

image004.jpg

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Author: Lý Tống

Lý Tống sinh ngày 01/09/1945 tại Huế, gia nhập Binh chủng Không Quân năm 1965, thuộc Khoá 65A, và du học Hoa Kỳ năm 1966. Vì trừng trị một niên trưởng hắc ám, Lý Tống bị kỷ luật, bị sa thải và trở về nước. Lý Tống được tuyển vào hãng Pacific Architech & Engineer và chỉ trong vòng 3 tháng thực tập ngành Thảo Chương Viên, Lý Tống tự động sửa một program chính của hãng, giảm thiểu nhân số phòng Phân Tích từ 5 nhân viên xuống còn một mình Lý Tống. Do công trạng thần kỳ đó, Lý Tống được Chủ Tịch Hội IBM Chapter Việt Nam đề nghị bầu vào chức Phó Chủ Tịch và cấp học bổng du học ngành Programmer. Nha Động Viên đã gọi Lý Tống nhập ngũ Khoá 4/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trước khi Lý Tống hoàn thành thủ tục nên anh bỏ mất cơ hội du học Hoa Kỳ lần thứ nhì. Lý Tống là người duy nhất bị sa thải vì kỷ luật được trở lại Không Quân Khoá 33/69 và tốt nghiệp Hoa Tiêu ngành Quan Sát. Năm 1973, Lý Tống được huấn luyện lái phi cơ A.37, trở thành Phi Công Phản Lực Cường Kích. Vốn là người của xứ cố đô ngàn năm văn vật, Lý Tống là một tổng hợp của nhiều con người : Vừa giang hồ lãng tử, vừa nghệ sĩ, businessman, vừa là hoa tiêu gan lì gai góc. Đề cập đến các chiến tích lẫy lừng với danh hiệu Top Gun của Lý Tống, có câu nhận xét của Phi công cùng Phi Đoàn Ó Đen thường được nhắc nhở đến : “Nếu 4 Vùng Chiến thuật có 4 Lý Tống, VC sẽ không ngóc đầu lên nỗi !“. Về Danh Hiệu PAPILLON, Lý Tống đã sáu (6) lần vượt ngục, chỉ thua Papillon Pháp, người vượt ngục chín (9) lần. Sự khác biệt giữa Henri Charrièrre và Lý Tống gồm các điểm : * Henri chuyên vượt ngục bằng đường biển, Lý Tống “chuyên trị“ đường bộ.* Henri luôn luôn dùng tiền nhờ người khác giúp đỡ và hợp tác, Lý Tống chỉ trốn một mình và mọi kế hoạch từ A đến Z đều chính tự mình vạch ra và thực hiện. * Ngoài ra, Henri chỉ chú tâm vượt rào “ra“ vì sự sống còn của bản thân, Lý Tống còn 3 lần vượt rào “vào“ các Phi trường (2 lần Phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần Phi trường Ubon Rachathani tại Thái Lan, tức Tổng cộng 9 lần bằng Henri Charrière) để đánh cắp máy bay, thi hành các Điệp vụ vì sự sống còn của Dân tộc VN. Thành tích vượt ngục được Ông Julian, Trưởng Phòng Phản gián Singapore, đánh giá : “Lý Tống là bậc thầy của Papillon“. Tháng 09/1981 Lý Tống rời quê hương tìm tự do bằng đường bộ, xuyên qua 5 quốc gia, dài hơn 3 ngàn cây số, trong thời gian gần 2 năm, trốn thoát 3 nhà tù, cuối cùng bơi qua eo biển Johore Baru từ Mã Lai đến Singapore, và được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho đi định cư tại Mỹ vào ngày 01/09/1983. Cuộc hành trình vượt biên tìm tự do của Lý Tống ly kỳ vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị của thế kỷ 20 được Tổng Thống Ronald Reagan vinh danh qua nhận định : “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom“ (Sự can trường bất khuất của Lý Tống là một biểu tượng và nguồn cảm hứng cho những ai muốn biết cái giá của tự do) ; và được ca tụng bởi những Tờ báo, Tạp chí nổi tiếng nhất thế giới như : Barry Wain của The Wall Street Journal : “Ly Tong is in a class by himself“ và Anthony Paul của Reader’s Digest : “His flight has become one of the great escape saga of our time“....... (Xin đọc thêm các bài tiểu sử của Lý Tống)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s